mandag 18. november 2013

Chúng Ta Có Quyền Con Người


Có bạn hỏi nghĩ gì về sự kiện CSVN được bầu vào Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc? Nói bầu bán cho sang chứ cần 4 xuất mà có 4 nước ứng cử thì còn bầu bán nỗi gì? Mất hoàn toàn tính cạnh tranh. Trong tôi luôn có hai suy nghĩ mâu thuẫn và trái ngược về sự kiện này.

1. Việt Nam không xứng đáng ngồi vào Hội đồng nhân quyền của LHQ vì nhiều quyền cơ bản của con người chưa được đáp ứng như nhiều tổ chức quốc tế lên tiếng. Biểu hiện rõ rệt nhất là nhiều người phải ngồi tù chỉ vì nói thật suy nghĩ của mình một cách ôn hòa. Chúng ta có thể kể tên nhiều người: Điếu Cày; Trần Huỳnh Duy Thức; Nguyễn Tiến Trung; Lê Công Định; Tạ Phong Tần; Nguyễn Xuân Nghĩa; Đinh Đăng Định. Họ thực sự là những tù nhân lương tâm không chỉ của VN mà còn là của nhân loại: đó là khát vọng cất lên tiếng nói chống lại cái xấu, ác vì một tương lai tốt đẹp hơn.

Và tôi tìm cách biện hộ rằng, nhìn vào lịch sử của Hội đồng nhân quyền (trước đây là Ủy ban nhân quyền) thì thấy vắng mặt khá nhiều những nước văn minh, tiến bộ. Hầu như là những nước đang gặp nhiều sự chỉ trích về nhân quyền có mặt tại Hội đồng này. Quyền con người đã được luật hóa khiến công dân được bảo vệ tối đa chống lại tất cả những gì phi nhân tính nên các nước văn minh, tiến bộ không cần quan tâm đến những hội đồng giúp công dân họ xem xét lại những bất cập của chính phủ trong vi phạm nhân quyền. Nhân quyền vốn như hơi thở, có thiếu vắng bao giờ mà phải cần đến sự trợ giúp của bình ô xy dưỡng khí từ bên ngoài? Cho nên nơi nào ngột ngạt tự do, dân chủ thì mới cần sự đánh giá, xem xét, trợ giúp…của ngoại lực. Hội đồng nhân quyền vì thế rất cần cho những nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cu Ba, Arap Saudi…Thế nên mới có cảnh bầu bán không có cạnh tranh như vừa qua: 4 nước châu Á ứng cử thì chọn cả 4, trong đó có Việt Nam.

Qua đây cũng có thể thấy tính hình thức, chiếu lệ, thậm chí là bất lực của Liên Hiệp Quốc nói riêng và Hội đồng nhân quyền nói riêng. Thế mới có chuyện, xưa nay chưa khi nàocác giám sát viên nhân quyền Liên Hiệp Quốc có thể vào VN để thăm và điều tra về các vụ bị cho là có tình trạng lạm dụng.

2. Nếu nghĩ theo cách tích cực thì tôi nghĩ, có thể áp dụng quan điểm giáo dục hiện đại là, thay vì tiêu diệt, đả kích thói độc ác, xấu xa, con người nên được khêu gợi khuyến khích những mầm tốt, hướng thiện để họ tự giáo dục và cải tạo bản thân mình.

Việc CSVN đã ở trong Hội đồng nhân quyền thì chắc chắn không thể nói là nhân quyền của VN khác với các nước do tính đặc thù về văn hóa, truyền thống, như xưa nay các quan chức có trách nhiệm vẫn hay phát biểu. Anh không thể đem quả bóng do anh thiết kế vào đá chung sân với các cầu thủ khác và nói rằng, tôi chỉ hợp với loại bóng này (để đỡ đau chân tôi)…Đây cũng là thời gian để chính quyền nhìn lại Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ đã được luật hóa và thực thi như thế nào trong cuộc sống? Người dân từ nay có Tuyên ngôn nhân quyền làm tham chiếu cho việc giám sát thực thi quyền con người của chính quyền Việt Nam với tư cách là chính phủ của mình, vừa với tư cách là hội viên trong Hội đồng nhân quyền LHQ. Khi Việt Nam đã tự đứng soi trước một tấm gương thì mọi xấu tốt sẽ được phô bày trước bàn dân thiên hạ. Còn nếu Việt Nam tự lấy tấm vải đen che gương để khỏi thấy mặt mình nhọ nhem thì lại là chuyện khác – câu chuyện về văn hóa và liêm sỷ.

Thế nên bước vào Hội đồng nhân quyền dễ hơn là ở lại đó, ghi dấu ấn chứng tỏ về một đất nước đã trưởng thành, nói và làm không trái ngược như ngày với đêm.
Chưa khi nào người Việt Nam có được vận hội chứng tỏ với thế giới là chúng ta có nhân quyền như thời điểm này.

Và bất kỳ người Việt Nam nào cũng nên nằm lòng, thực hiện đầy đủ về Tuyên ngôn nhân quyền mà Liên hiệp quốc đã đưa ra từ năm 1948.

Tuyên ngôn nhân quyền.
Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.
Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.
Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.
Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.
Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1:
- Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.
Ðiều 2:
- Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.
Ðiều 3:
- Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.
Ðiều 4:
- Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.
Ðiều 5:
- Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.
Ðiều 6:
- Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.
Ðiều 7:
- Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.
Ðiều 8:
- Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.
Ðiều 9:
- Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.
Ðiều 10:
- Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.
Ðiều 11:
- Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
- Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.
Ðiều 12:
- Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.
Ðiều 13:
- Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
- Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.
Ðiều 14:
- Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
- Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Ðiều 15:
- Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
- Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.
Ðiều 16:
- Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
- Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
- Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.
Ðiều 17:
- Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. – Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.
Ðiều 18:
- Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.
Ðiều 19:
- Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.
Ðiều 20:
- Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa.
- Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.
Ðiều 21:
- Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
- Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.
- Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.
Ðiều 22:
- Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.
Ðiều 23:
- Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.
- Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.
- Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
- Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.
Ðiều 24:
- Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.
Ðiều 25:
- Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.
- Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.
Ðiều 26:
- Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
- Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
- Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.
Ðiều 27:
- Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia sẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
- Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.
Ðiều 28:
- Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.
Ðiều 29:
- Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
- Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
- Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Ðiều 30:
- Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Thùy Linh,

Giải mã “Con người mới Xã hội Chủ Nghĩa”


Vừa chiếm được quyền lãnh đạo Nhà nước và Xã hội, Đảng CSVN ra oai đưa ngay cụm từ ý thức hệ vào tên nước rồi khẳng định bước đi và đích đến – đi từ Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) để đến đích Cộng sản Chủ nghĩa (CSCN).
Các vị lãnh đạo ngành “tai mắt mũi họng” rao giảng rất bài bản học thuyết Cộng sản với hai tiến trình, nghe mê hồn luôn: XHCN là bước quá độ (bước đệm) lên CSCN. Phân phối: “Làm theo sức, hưởng theo lao động – làm ít hưởng ít, làm nhiều hưởng nhiều, không làm không hưởng.

CSCN là đích đến cuối cùng. Phân phối: “Làm tùy sức, hưởng theo nhu cầu”- làm tự giác tùy theo sức lực, hưởng cần chi có nấy, người mất sức lao động vẫn được hưởng theo nhu cầu.
Thế rồi, để đi đến “thiên đường” ấy, các vị nêu ra điều kiện tiên quyết: “Muốn xây dựng thành công CNXH phải có con người XHCN” – Con người mới XHCN quyết định thành bại cả tiến trình.
Chủ thuyết CS đã hoang tưởng, các vị còn đưa ra chuẩn chất con người mới XHCN càng hoang tưởng, siêu phàm hơn: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, phải “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.v.v…

Ở thế tục nầy tìm đâu cho ra những “Con người mới XHCN” với chuẩn chất siêu phàm như thế?!. Không tìm ra con người mới XHCN thì cũng có nghĩa là không bao giờ có CNXH hay CNCS gì cả? – “vạn sự khởi đầu nan”, hoang tưởng từ đầu đến cuối? .

Sau khi chiếm Sài Gòn 30/04/1975, tôi tận mắt chứng kiến, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải Miền Nam, Kiến trúc sư Huỳnh Tất Phát, chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN, hai ông cùng vi hành trên đường bỗng dưng dừng lại trỏ tay, lắc đầu ngao ngán trước cảnh chen lấn giành nhà, giành xe… Tôi thoáng nghĩ, là trí thức yêu nước, các ông từng sống ở đô thị, có nhà lầu, xe hơi, bỏ chúng lại phía sau ra chiến khu tham gia kháng chiến vì đại sự, giờ đây thấy những người một thời vào sanh ra tử tranh giành những thứ “lẻ tẻ” đâm ra chướng mắt, ngao ngán.

Cuộc chạy đua vì danh lợi trong cán bộ đảng viên có lẽ bắt đầu từ đó. Đến nay ít nhất đã 38 năm (1975-2013) xây dựng CNXH mà, dầu có cố, cũng không tìm đâu ra “con người mới XHCN” với những chuẩn chất : cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…”. Ngược lại, chỉ cần hí mắt cũng thấy đầy rẫy tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, hối lộ… trong giới cầm quyền. Lẽ sống của họ: tôi là trên hết, tiền là tất cả, họ giàu nứt đố đổ vách – Vào mạng Inter gõ sẽ thấy tài sản nổi của quan chức. Trước hiện tình ấy, có người thắc mắc: họ giàu quá như vậy sao còn tiếp tục tham? . Tôi nghĩ họ tham như thế chưa quá đâu, hãy ước tính các khoảng cần chi của họ:
Chi cho xây dựng cơ ngơi hiện đại,
Chi cho đi lại cao sang,
Chi cho ăn uống như ông hoàng,
Chi boa cho những cô nàng bồ nhí,
Chi cho cô cậu tí đi học nước ngoài,
Chi cho ngài trị bịnh ngoại quốc,
Chi cho xây cất từ đường,
Chi sắm sẵn hàng rương, nhà mồ,
Chi hối lộ lúc mâm nguy…
Tính lại suy đi biết bao là đủ?
Đôi lời nhắn nhủ: “Hãy tận thu cho đủ để có mà chi”.

Lúc còn kháng chiến, khi chưa cầm quyền, còn nghèo khó, các vị lãnh đạo ghét cai ghét đắng Trí, Phú, Địa, Hào, kêu gọi mọi người hãy “đào tận gốc tróc tận rễ” chúng. Vừa cầm quyền, qua bước cải tạo XHCN Công, Nông, Thương, dường như các vị chẳng những không còn oán Trí, Phú, Địa, Hào mà mơ mình sớm thành ít nhất một trong 4 ấy. Hơn 38 năm qua, là thời gian quá đủ cho cuộc hành trình của quan chức tìm các danh vị Trí, Phú, Địa, Hào. Qua cải tạo chiếm đoạt, họ dễ dàng thành Phú, Địa, Hào, còn muốn trở thànhTrí thì phải học hành, lớn tuổi học khó nhớ mau quên, dùng tiền mua bằng là thượng sách. Vào mạng Inter, ghé thư viện TS Hà Sĩ Phu, tôi gặp bài thơ lục bát châm chích sâu cay:
Bốn anh Trí – Phú – Địa – Hào,
Chỉ thương anh Trí lao đao đến giờ.
Đảng thương anh Trí ngu ngơ,
Cho Công – Nông – Trí chung cờ liên minh.
Trông lên Liềm – Búa hai hình,
Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu!,
Quay sang tìm Phú – Địa – Hào,
Thấy ba bụng phệ… đã vào Đảng ta.

Tham thì có thể bất cứ ai, còn nhũng thì phải là những người có quyền – chống tham nhũng là chống người có quyền, chỉ những người nắm quyền tối thượng mới dám đứng ra thị thiền chống tham nhũng. Hết tên Tổng Bí thư nầy đến tên Tổng Bí thư khác hô hào “đẩy lùi” nó không chịu lùi, “chận đứng” nó chẳng những không chịu đứng lại còn tấn tới, càng chỉnh đốn càng khốn đốn.

Khi nhận ra tham nhũng trở thành quốc nạn, làm phương hại đến tồn vong chế độ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng so tay áo nhận lãnh chức Trưởng Ban phòng chống tham nhũng vừa làm trong sạch nội bộ củng cố chế độ, vừa xây dựng con người mới XHCN trong Đảng để làm đầu tàu kéo dân ta lên “thiên đường”. Qua năm lần bảy lượt xua quân tảo trừ tham nhũng, phát hiện ra chúng đông như rươi, che chắn cho nhau không còn kẻ hở, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng uể oải nói: “Tham nhũng lớn cũng có, nhỏ cũng nhiều, như gãy ghẻ ngứa, rất khó chịu!”, “Đến hết thế kỷ nầy không biết có CNXH hoàn thiện ở VN hay chưa !”.
Là Tổng Bí thư đương nhiệm của Đảng đang cầm quyền, là người một thời đứng đầu ngành xây dựng Đảng, Nguyễn Phú Trọng chán nản, chào thua như thế thì còn hy vọng gì về cái thiên đường XHCN hay CSCN nữa hỡi Quốc hội !?. Biết rằng trong bóp (ví) các vị luôn có thẻ đảng và thẻ đại biểu quốc hội, nếu các vị còn có lòng yêu nước, thương dân thì đừng tiêp tục dùng Hiến pháp mang nội dung ý thức hệ Cộng Sản buộc dân phải đi vào con đường bất tận, ảo tưởng. Ngược lại, nếu các vị vì Đảng quên Dân thì đừng trách sao dân phàn nàn các vị.

Thiện Tùng.

Vài Nét Về Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 Tháng 12


Hai chữ “Nhân Quyền” nghe thật xa vời với người Việt chúng ta! Đúng vậy. Thế nhưng khi đối diện với những vấn đề của các quyền cụ thể là: (quyền tự do kinh doanh, quyền đi lại, ngôn luận…), hay tìm hiểu về những con người – nạn nhân cụ thể như: (người mất đất, người bị tù oan…) thì các quyền rõ ràng là rất gần với mỗi người.
Mặt khác, bởi lẽ các quyền con người phụ thuộc lẫn nhau, nếu không có cái nhìn tổng thể về các quyền thì chúng ta khó lý giải được nguồn gốc và tìm ra các giải pháp cho các vi phạm. Giáo dục và phổ biến nhân quyền đòi hỏi tính hệ thống là vì vậy. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Nhân quyền (10/12), bên cạnh mục đích tôn vinh những người bảo vệ nhân quyền, cũng là một hoạt động hữu hiệu để giáo dục công chúng.

Bản “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền” (Universal Declaration of Human Rights) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 10/12/1948. Bản Tuyên ngôn này là nền tảng cho hai công ước cơ bản về quyền con người cùng được LHQ thông qua vào năm 1966 (ICCPR và ICESCR – CS-Việt Nam đã gia nhập vào năm 1982), cũng như các văn kiện nhân quyền quốc tế trong nhiều lĩnh vực được thông qua sau đó. Nhiều văn kiện của các tổ chức liên chính phủ ở nhiều khu vực cũng chịu ảnh hưởng về nội dung và có sự dẫn chiếu đến bản Tuyên Ngôn này. Bản Tuyên Ngôn, với 30 điều khoản ngắn gọn, rất hữu ích và tiện lợi cho mục đích giáo dục nhân quyền.

Đến năm 1950, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 423 (V), tại phiên họp thứ 317, chính thức kêu gọi mọi quốc gia thành viên và các tổ chức quan tâm kỷ niệm ngày 10/12 – Ngày Nhân Quyền (Human Rights Day) – bằng các phương thức khác nhau.
Hàng năm, Ngày Nhân quyền 10/12 được kỷ niệm ở nhiều quy mô khác nhau tại khắp nơi trên thế giới. Nhân ngày này, nhiều tổ chức và các cá nhân bảo vệ nhân quyền cũng thường ra tuyên bố, thông cáo trình bày quan điểm.

Năm 2008, nhân dịp 60 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã khởi xướng phong trào kéo dài suốt năm để đánh dấu. Vào dịp 10/12/2008, hơn 350 trí thức, luật gia, nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc đã cùng nhau ký Hiến chương 08 kêu gọi nhà cầm quyền mở rộng dân chủ, tôn trọng pháp quyền và cải cách hiến pháp. Một trong những người trực tiếp soạn Hiến chương này, nhà văn Lưu Hiểu Ba, đã được trao giải Nobet Hòa bình năm 2010 (tiếc rằng trong khi ông đang ngồi tù!). Tại Campuchia, vào ngày này, các NGO đã tổ chức cuộc tuần hành với khoảng 5.000 người và cuộc thả bóng bay với 1.000 người tham gia.

Tại Việt Nam, ngày Nhân Quyền được quan tâm khá sớm, nhưng chủ yếu tại Miền Nam từ những thập niên 1960. Chẳng hạn như vào ngày 10/12/1967, tại Phòng Khánh tiết Tòa đô chính Sài Gòn, đã diễn ra Lễ kỷ niệm năm thứ 19 ngày Quốc tế Nhân Quyền. Một số luật gia (như G.S. Nguyễn Quang Quýnh…) đã có bài phát biểu về nội dung, giá trị của Tuyên Ngôn nhân quyền, sự tương thích của luật pháp quốc gia với công pháp quốc tế trong việc bảo vệ dân quyền.
Hai thập niên sau năm 1975, ngày Nhân Quyền hầu như không được ai nhắc đến. Trong thập niên 1990, một số cuộc kỷ niệm chủ yếu diễn ra trong giới luật gia, cơ quan nhà nước. Những năm sau đó, đã có các cuộc hội thảo nhân dịp này do Bộ Ngoại Giao hoặc trường đại học, viện nghiên cứu tổ chức. Tuy nhiên sự quan tâm của công chúng, báo chí vẫn chưa đáng kể. Dẫu vậy, nhiều cá nhân, tổ chức đang cố gắng để làm Ngày Nhân Quyền trở thành sinh hoạt cộng đồng diễn ra thường niên, tạo đà cho các hoạt động thúc đẩy nhân quyền khác.
Năm nay, Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hợp Quốc (OHCHR – cơ quan đầu mối các hoạt động nhân quyền của Liên Hợp Quốc) gắn việc kỷ nhiệm Ngày Nhân Quyền với việc đánh dấu 20 thành lập Văn Phòng, cũng là 20 năm Hội Nghị Thế Giới về Nhân Quyền tại Viên – nước Áo (cùng trong năm 1993). Dự kiến một số hoạt động sẽ diễn ra tại Geneva (ngày 5/12/2013), New York (ngày 10/12) và các văn phòng khu vực của OHCHR. OHCHR cũng gợi ý 20 chủ đề khác nhau để các nhóm, tổ chức, cá nhân trên thế giới lựa chọn để tập trung trao đổi, thảo luận (các nhóm quyền khác nhau; thương mại và nhân quyền; tự do biểu đạt; pháp quyền; chống buôn người; cưỡng bức lao động…).

Với tần lớp xuất hiện của các cụm từ “nhân quyền”, “quyền con người” tại Việt Nam từ cuối năm 2012 đến nay trên nhiều diễn đàn (thảo luận sửa đối Hiến Pháp, hoạt động của mạng lưới blogger, nhiều “tuyên bố”, “tuyên ngôn” khác nhau, việc chuẩn bị báo cáo của chính phủ và của xã hội dân sự theo cơ chế UPR – Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ, “dã ngoại nhân quyền”, việc nhà nước ký Công Ước chống tra tấn và gia nhập Hội Ðồng Nhân Quyền…), Ngày Nhân Quyền và tháng 12 năm nay hứa hẹn có nhiều sinh hoạt sôi động hơn, có nhiều người tham gia hơn và mang ý nghĩa thực chất hơn so với các năm trước.

K.Tùng.

Blogger Khai Thác Sự Kiện CSVN Là Thành Viên UNHRC


Các bloggers vận động dân chủ hóa Việt Nam đang làm chế độ Hà Nội bối rối khi họ tuyên bố sẽ tham gia tích cực vào việc bảo vệ nhân quyền.
Hôm 12 tháng 11-2013, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu chọn 14 thành viên mới cho Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc viết tắt là UNHRC. Việt Nam vừa được chọn là một trong 47 thành viên của UNHRC. UNHRC có nhiệm vụ chính là theo dõi và phản đối những hành động vi phạm nhân quyền trên toàn cầu.
Bởi việc lựa chọn thành viên cho UNHRC được tiến hành theo khu vực, theo đó, các quốc gia trong khu vực sẽ lựa chọn ứng cử viên và lần này, bốn ứng cử viên cho khu vực châu Á là Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabia và Maldives không có đối thủ cạnh tranh nên cả bốn đượng nhiên trở thành thành viên của UNHRC.
Trong khi các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế bày tỏ sự thất vọng và bất bình trước sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC) thì các blogger Việt Nam đang cố gắng khai thác sự kiện này theo hướng có lợi nhất trong việc tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam.
Các blogger trong Mạng lưới blogger Việt Nam vừa ra một tuyên bố, theo đó, với vai trò thành viên của UNHRC, cả chính quyền lẫn 90 triệu công dân Việt Nam cần phải gìn giữ những giá trị nền tảng để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, đồng thời tôn trọng những điều khoản mà chế độ Hà Nội đã tự nguyện cam kết thực hiện.
Mạng lưới Blogger Việt Nam cho biết, họ sẽ giúp nhà cầm quyền CSVN thực hiện các cam kết bảo vệ, thúc đẩy tiến bộ nhân quyền bằng cách “xuống đường, phổ biến công khai các văn bản về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết, cụ thể là Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước Chống tra tấn và các văn bản khác có liên quan”.
Các blogger Việt Nam cũng sẽ “công khai tổ chức những buổi trao đổi hoặc cổ súy cho nhân quyền dưới nhiều hình thức như thảo luận nơi công cộng, dã ngoại, cà phê tuổi trẻ, đi bộ/đạp xe vì nhân quyền”. Sẽ “cử đại diện đến các văn phòng của UNHRC nói riêng và tổ chức Liên Hiệp Quốc nói chung để đệ trình về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Nêu những đề nghị, yêu cầu cải tiến để dân chúng Việt Nam thật sự được hưởng những quyền làm người phổ quát và Việt Nam thực sự xứng đáng là một thành viên của UNHRC”.
Các blogger Việt Nam cũng sẽ tổ chức ra mắt “Mạng lưới blogger Việt Nam” vào ngày 10 tháng 12 – Ngày Quốc tế nhân quyền do Liên Hiệp Quốc khởi xướng để “phối hợp với nhiều tổ chức, cá nhân xúc tiến xây dựng một cơ sở dữ liệu trực tuyến nhằm lưu trữ những vi phạm nhân quyền của Việt Nam để các tổ chức, cá nhân dễ dàng tham khảo nhằm bảo vệ  và thúc đẩy nhân quyền”, giúp nhà cầm quyền Việt Nam “làm tròn các nghĩa vụ” trong tư cách một thành viên của UNHRC.
Trong tuyên bố vừa kể, các blogger Việt Nam khuyến cáo chế độ Hà Nội rằng, với tư cách thành viên của UNHRC, họ nên đáp ứng bảy yêu cầu của Liên Hiệp Quốc, đón nhận phái đoàn mà Liên Hiệp Quốc cử đến Việt Nam để điều tra những tố giác vi phạm nhân quyền. Nên chấm dứt mọi hành vi tra tấn, đối xử tàn nhẫn, hạ thấp nhân phẩm đối với mọi công dân Việt Nam như Công ước Chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam vừa cam kết thực hiện.
Chế độ Hà Nội còn được giới blogger khuyến cáo là nên trả tự do cho những công dân đang bị giam giữ chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận và các quyền con người khác dựa trên những tiêu chuẩn phổ quát từ các công ước của Liên Hiệp Quốc. Đồng thời nên hủy bỏ những điều khoản có nội dung mơ hồ và dễ bị diễn giải tùy tiện như Điều 258 của Bộ luật Hình sự (lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân).
Theo các blogger Việt Nam, khi đã là thành viên của UNHRC, nhà cầm quyền CSVN nên “chấm dứt tình trạng độc quyền trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, bảo đảm quyền tự do thành lập các cơ quan báo chí, cơ quan xuất bản của mọi cá nhân, tổ chức. Gỡ bỏ tường lửa ngăn chặn người sử dụng Internet truy cập vào các trang mạng xã hội, đồng thời hủy bỏ Nghị đinh 72 vì nó siết chặt tự do biểu đạt và thông tin trên mạng”. 

Sài Gòn NV. 

Phong Trào Ðấu Tranh – Mạng Xã Hội – Đời Thực – Lãnh Tụ


Là người con của dân tộc Việt Nam có một chút tâm huyết đấu tranh cho dân chủ trên quê hương mình nên cũng có những đêm tôi nằm trằn trọc không ngủ được, theo dòng suy nghĩ miên man. Tôi tự hỏi ở nước ta cũng có nhiều những người tài giỏi, không thiếu những người có tâm, có tài đã và đang dấn thân vào công cuộc đấu tranh vì một ngày mai cho tương lai nước Việt. Có những người đã phải hy sinh cả tính mạng, hoặc là phải sống trong ngục tù, bị đày đọa, giày vò, chịu nhiều đau đớn cả tinh thần lẫn thể xác. Nhưng tại sao sự nghiệp đấu tranh vẫn rơi vào vòng bế tắc, luẩn quẩn như chính cuộc sống của đại bộ phận nhân dân Việt Nam?

Thứ Nhất: Phong trào đấu tranh.
Thời gian qua trên khắp mọi miền tổ quốc đã diễn ra rất nhiều các cuộc biểu tình: biểu tình chống Trung Quốc, biểu tình của dân oan chống nhà cầm quyền cướp đất, biểu tình của bà con giáo dân chống nhà cầm quyền bắt người vô cớ, biểu tình phản đối bản án đối với các nhà hoạt động dân chủ, biểu tình phản đối công an đánh chết người,… Tất cả các cuộc biểu tình trên đều gắn liền với một sự kiện cụ thể nào đó và dĩ nhiên là nó mang tính tự phát nhưng suy cho cùng chúng đều có một điểm chung xuất phát từ nguyên nhân sâu xa đó là sự lãnh đạo độc đoán và bất nhân của đảng cộng sản. Và bởi vì các cuộc biểu tình nói trên đều mang tính tự phát nên chúng nhanh chóng bị nhà cầm quyền dập tắt khá dễ dàng bằng đội ngũ đông đảo công an, quân đội,… được vũ trang và có tổ chức.

Thứ hai: Mạng xã hội.
Ở trên ta đã phân tích nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh, bởi vì chúng tự phát và đơn lẻ. Mặc dù có 100, 1000,… cuộc đấu tranh đơn lẻ như thế xảy ra ở nhiều nơi thì cũng lần lượt bị bẻ gãy một cách dễ dàng. Vậy làm sao để biến 100, 1000,… cuộc biểu tình đó thành một cuộc xuống đường của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đến đây tôi nghĩ mạng xã hội sẽ là một phương tiện hữu hiệu nhất để liên kết những cuộc đấu tranh đó lại. Đây là cơ sở hay nói đúng hơn là hạt nhân để có một cuộc xuống đường lớn trong đời thực.

Thứ ba: Đời thực.
Nói đến các cuộc biểu tình hay xuống đường tức là nói đến những con người có chung một mục đích, ý chí tập hợp nhau lại tại một địa điểm cụ thể nào đó để phản đối hoặc biểu dương một tinh thần nào đó để thỏa mãn những mục đích chung của họ. Chúng ta không thể biểu tình bằng việc chỉ ngồi máy tính và di chuột vào trang facebook được. Vì vậy chúng ta cần phải triển khai tinh thần liên kết thông qua mạng xã hội đó vào đời thực. Và tôi nghĩ đến lúc này chúng ta phải dùng đến một phương tiện thông tin hữu ích khác nữa đó là truyền đơn. Phương tiện này cũng đã được rất nhiều người đấu tranh có tâm huyết trước đây sử dụng nhưng nói chung là đều thất bại theo tôi có 2 nguyên nhân chính sau đây:
1. Làm việc đơn độc:
Việc một người hoặc một nhóm người nào đó tổ chức phát Truyền đơn trên một địa bàn nhằm mục đích tuyên truyền cho lý tưởng của họ sẽ dễ dàng bị hệ thống mật vụ dầy đặc của nhà cầm quyền phát hiện và cô lập. Nhưng nếu đây là tập hợp đông đảo của những người sử dụng mạng xã hội thì mọi chuyện coi như sẽ sáng sủa hơn rất nhiều.
2. Không gắn vào truyền đơn công thức phát tán của chúng:
Nếu bạn nào đã có thời gian tiếp xúc với môi trường kinh doanh hàng đa cấp thì sẽ dễ dàng hiểu ra điều tôi sắp nói đến là gì. Trước hết xin hãy bỏ qua những vụ lùm xùm, lừa đảo của những người kinh doanh theo mạng mà hãy chú ý đến ý tưởng khá độc đáo của họ.
Trong ngành kinh doanh theo mạng là một ngành bán hàng thông qua các kênh phân phối đó là các nhân viên bán hàng đa cấp. Theo lý thuyết của ngành kinh doanh này tôi lấy ví dụ đơn giản nhất:
Nhân viên A có 2 nhân viên trực thuộc là B1, B2;
Tiếp đến B1 có 2 nhân viên dưới quyền là C1, C2.
B2 có 2 nhân viên dưới quyền là D1, D2.
v.v…
Cứ tiếp tục như vậy tạo thành một hệ thống phân phối theo cấp số nhân 2 thành 4, 4 thành 8, 8 thành 16, 16 thành 32,…
Vậy, áp dụng nguyên tắc phát triển trên vào việc phát tán truyền đơn thì tại sao chúng ta không ghi rằng “Nếu mỗi người là một công dân của dân tộc Việt Nam, thì hãy photo hoặc chép ra tối thiểu là 3 bản để phân phát cho những người xung quanh”. Tôi tin rằng với mỗi người dân khi nhắc đến nghĩa vụ đối với Tổ Quốc thì họ sẽ sẵn sàng ủng hộ. Và quan trọng hơn ở đây chúng ta đã thiết lập được công thức lưu hành trên chính tờ truyền đơn đó, công thức đó chính là dòng ghi chú trong ngoặc kép. Với phương thức đó thì chẳng bao lâu truyền đơn sẽ ngập tràn trên lãnh thổ Việt Nam và sẽ quy tụ được toàn dân xuống đường trong nay mai.

Thứ tư: Lãnh tụ.
Để công cuộc đấu tranh trở thành tự giác và có hệ thống thì phải có một tổ chức, một người có đủ tầm ảnh hưởng đứng ra lãnh đạo gọi là Lãnh tụ. Nói đến Lãnh tụ thì đó phải là một người có đủ tài, đủ đức và đặc biệt là phải đại diện cho quyền lợi, ý chí của số đông đại bộ phận Nhân dân. Vậy, từ các phong trào đấu tranh nhỏ, các nhóm nhỏ đấu tranh tự phát được quy tụ lại thành một tập thể đủ lớn và Lãnh tụ sẽ là người có tầm ảnh hưởng nhất trong tập thể đó đứng ra chịu trách nhiệm lãnh đạo quần chúng.

Kết luận:
Trên đây chỉ là một thiển ý của cá nhân tôi, và mong rằng trong tương lai chúng ta sẽ tìm ra những phương thức đấu tranh hữu hiệu cho sự nghiệp dân chủ hóa xã hội, là con đường duy nhất của Dân tộc ta trong thời đại ngày nay. Xin chân thành cảm ơn!

Hồng Lĩnh.

Anh Hùng Việt Nam


Để có chữ Việt Nam như hôm nay? trong suốt lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha thời nào cũng có anh hùng. Cho dù đó là gái hay trai già hay trẻ, dòng máu anh hùng của người Việt đã được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác cho dù 1000 ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây (bài hát của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn). Nhưng hai chữ Việt Nam vẫn ngạo nghễ bên cạnh cường quốc Đại Hán, mà không trở thành Tây Tạng hay Tân Cương, có được vinh quang đó cha ông ta đã phải đánh đổi bao đầu rơi chất thành núi, bao máu chảy biến thành sông, nhưng dân tộc ta không bao giờ chấp nhận làm nô lệ để hai chữ Việt Nam vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
Là người con dân Việt Nam cho dù sống ở đâu, có làm nghề gì đi chăng nữa thì cứ đến ngày giao thừa cho dù có bận đến mấy, thì ai cũng có một mâm cỗ cúng ông bà và đón mừng tết cổ truyền nhằm để dậy cho con cháu biết đến nguồn cuội, và quá khứ hào hùng của dân tộc. Dòng máu anh hùng đã được chứng minh qua nhiều biến cố lịch sử Việt Nam, đã đánh bại các cường quốc hung hãn nhất như Thành Các Tư Hãn, Quang Trung đại phá quân Thanh, Pháp, Mỹ và kể cả Trung Quốc năm 1979.
Những anh hùng của dân tộc cũng là những con người bằng da bằng thịt như tất cả chúng ta, không không chấp nhận bị áp bức, bị bóc lột, bị mất tự do để trở thành nô lệ nên họ đã đứng lên chống lại các ác bá cường hào, những vị vua chúa độc tài, và kẻ thù xâm lược. Trước khi trở thành anh hùng Thánh Gióng cũng là một đứa trẻ ba năm không biết nói biết cười, anh em nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cũng sống bình thương, Nguyễn Nhạc còn đi buôn trâu nên có biệt danh là anh Hai Trâu (1) nhưng khi đất nước quê hương cần, họ đã trở thành những anh hùng và được người đời ca tụng.
Ở đâu cũng có anh hùng
Thời nào cũng có thằng khùng thằng điên
Câu ca dao ấy là lời ru của các bà mẹ Việt Nam và gắn liền tuổi thơ của hàng triệu đứa trẻ người Việt khi còn nằm trong nôi, để đến ngày hôm nay những thằng được cho là khùng, đang bán nước bằng cách này hay cách khác cho ngoại bang, thì bên cạnh đó cũng có những anh hùng xuất hiện, cho dù cuộc sống họ có đầy đủ dư ăn dư mặc, nhưng khi nhìn thấy nhân dân tộc bị áp bức bóc lột bởi đảng cộng sản, họ vẫn sẵn sàng đứng lên tranh đấu cho quê hương.
Trước khi bị bắt và bị kết án tù tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ đã từng tốt nghiệp tiến sỹ luật ở Pháp, thay vì sống an phận ở nước ngoài những với dòng máu anh hùng. Ông quyết định về nước đấu tranh cho cho Việt Nam thành đa nguyên đa đảng, và kiện cả đương kim TT Nguyễn Tấn Dũng, và bị ông ta trả thù bằng bản án chống phá chế độ với bảy năm tù giam.
Ở trong nước bà Tạ Phong Tần trước khi tranh đấu cho quê hương với trang blog (Công Lý Và Sự Thật), bà từng là sỹ quan công an và là đảng viên ĐCSVN với cuộc sống hết sức là đầy đủ, nhưng khi nhìn thấy sự sai trái bất lương và vô lý của chế độ cầm quyền CS, bà đã đứng lên tranh đấu cho những người cùng khổ, bị áp bức bóc lột đến tận xương tủy. Nên bà đã bị ĐCSVN bắt kết án với 10 năm tù với tội danh như luật sư Cù Huy Hà Vũ.
Và còn nhiều nữa những anh hùng sẵn sàng chịu chết để nòi giống được trường tồn trước nguy cơ Hán hóa từng ngày, những cái tên đã đi vào lịch sử hiện đại như ông Điếu Cày, Lê Thanh Hải, luật sư Lê Quốc Quân, LS Lê Công Định, Minh Hạnh, Đinh Nguyên Kha, Trương Duy Nhất, Phương Uyên, Đinh Nhật Kha… và còn nhiều nữa những anh hùng trong thời cộng sản, họ không thể ăn ngon mặc đẹp khi nhìn thấy đồng loại thân yêu của mình đang ngày đêm bị cộng sản áp bức, bóc lột mà không đứng lên để bênh vực cho dù có bị tù đày.
Những người con dân Việt dù ờ Đức hay Mỹ, ở Anh Hay ở Pháp… Cuộc sống có tự do nhưng chỉ là tự do cá nhân, cuộc sống có đầy đủ hơn nhưng đầy đủ của một gia đình. Là người yêu nước họ không thể nhìn quê hương đất tổ đang bị cộng sản bán cho Tàu mà chịu ngồi yên, Nhìn thấy đồng loại bị bóc lột áp bức mà có thể cầm nước mắt, những trang mạng ngày đêm tranh đấu cho tự do của dân tộc một cách vô vị lợi, cho dù họ có mất thời gian tiền bạc nhưng vẫn muốn đem lại tự do hạnh phúc cho quê hương. Và Cái tên Việt Nam còn mãi mãi.
Đem cái nhìn khác đến với dân tộc để mọi người dân trong nước hiểu ra sự sai lầm của CS có thể dẫn đến mất nước, và tình trạng tham nhũng tràn làn! những tiếng nói mà chính quyền cộng sản đã dùng tường lửa ngăn chặn, họ gọi là phản động như trang VOA, Danlambao, Quê Choa, Bauxite, Châu Xuân Nguyên… và còn nhiều trang khác để ngăn chặn người dân không biết vượt tường lửa sẽ không thể truy cập, nhằm bịt hết những thông tin đa chiều để duy trì lâu hơn nữa cái chế độ thối nát của nhà cầm quyền.
Tuổi trẻ của chúng ta ngày nay cũng sẽ là người yêu nước, và là những anh hùng trong tương lai nếu tất cả chúng ta dám đứng lên làm chứng cho công lý và sự thật, chấp nhận tù đày và có thể bị bách hại. Để dân tộc Việt Nam ta được mãi mãi trường tồn, nếu tất cả chúng ta không sớm nhận ra sự thật là đảng cộng sản đang bán nước thì con cháu chúng ta sẽ có quốc tịch Hán ngày mai.

Uyển Thi.


Nhân Quyền Há Phải Ðồ Trang Sức


Ngẫm đi nghĩ lại, thấy cái lý luận của chàng nào đó thật là hay: “Đụng vào đâu cũng chặt cũng chém cũng xử, cũng bỏ không bầu thì rồi lấy ai ra làm việc?”.
Phát ngôn đó thật chân tình. Nó mang tính lý luận theo cái dòng suy lý được tổng kết từ một thực tại là tay anh nào chị nào cũng dính chàm cả rồi! Cái nhà lý luận đó thực sự là một kiểu nhà lý luận nằm trong chăn. Khái quát hóa cho vui, đó là một nhà lý luận của chăn, trong chăn và vì chăn. Dĩ nhiên trong chăn ngoài vài ba thứ cần khám phá khác không mang tính lý luận, còn có rận. Từ đó suy ra, chúng ta đã gặp được kiểu nhà lý luận từ trong chăn mà ra, nhà lý luận của rận, do rận và vì rận.
Từ hình thù một quốc gia phóng chiếu thành một thế giới nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ thì cũng vậy thôi. Là muốn nói đến chính cái Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ vài ba năm vừa được bầu ra ấy. Ông Ban Ki Mun không phải hạng người vô học nên ông không lý luận kiểu “Đụng vào đâu cũng chặt cũng chém cũng xử, cũng bỏ không bầu thì rồi lấy ai ra làm việc?”. Ông Ban Ki Mun với nụ cười hiền như người mẹ hiền chỉ gửi một thông điệp ngầm qua nụ cười hiền: “Nhớn rồi, phải tự xử lý mọi việc, không được có cái thói mếu máo chạy về, vừa sờ ti vừa mách mẹ!”.
Giới trẻ nước nhà, may sao, đã không muốn có thói xấu sờ ti mách mẹ đó. Họ làm ăn rất đàng hoàng. Họ sẽ cùng mọi người in ra những bản Tuyên ngôn Quyền Làm Người để nội dung cao quý đó được lan truyền trong khắp đất nước. Vì đất nước mình còn quá nhiều người không biết hoặc không nhớ ra rằng mình đúng là Người. Thế nên mới có những người đã tìm mọi cách để được lẻn vào trong một cái Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và họ vẫn ngỡ rằng một lần nữa họ lại thêm một cơ hội dùng những thiết chế dân chủ như những món trang sức. Nhưng người dân thì đã dần dần hiểu, và nhờ hoạt động của các bạn trẻ, họ sẽ ngày càng hiểu rõ hơn về các quyền làm người của mình – vì những quyền ấy thật thiết thân, trước hết là quyền được sống và quyền được mưu cầu hạnh phúc. Và sống, và được sống hạnh phúc hoàn toàn không mang tính trang sức.
Như cái quyền Đoàn Văn Vươn từng thực hiện: lấn biển, nuôi thủy sản, giành giật với bão với lụt, giành giật có khi không nổi với nước đến độ phải hy sinh con gái mới tám tuổi đầu của mình cho nước. Một cô giáo khi nghĩ đến lớp Hai lớp Ba mình đang dạy bỗng hụt đi một em bé dễ thương đến thế, có khi chỉ mới thấy cái “sĩ số” hụt di vài phần trăm – nhưng với vợ chồng anh Vươn, với họ hàng nhà ấy, với làng xóm ấy, với cái lòng mưu cầu hạnh phúc ấy, đó là mất đi một trăm phần trăm hy vọng không bao giờ cứu vãn nổi.
Thật lạ kỳ, một dân tộc đã sẵn lòng hy sinh nhiều triệu người để có Dân chủ và Tự do, bỗng lại rơi vào thảm cảnh những Tự do và Dân chủ trở thành những đồ trang sức. Tội nặng phải đổ lên đầu giới trí thức, không nên đổ cho kẻ khác. Vì giới trí thức chưa làm cho toàn dân tộc hành động cho đúng thực chất các khái niệm – khiến cho Tự do và Dân chủ từ chỗ là những nguyên lý của sự sinh tồn và sung túc trong hài hòa, thì lại trở thành những hột trai giả lấp lánh trên ngực những ông nghị ba hoa những bà nghị nói leo trong một hệ thống ấn nút vô duyên và vô trách nhiệm – trên cái cân Công lý giả của những tòa án xử oan dân mà không mảy may biết thẹn biết nhục – trên những bàn tay đặt trên ngực nghe đọc lời thề Hippocrate giả cốt lấy được mảnh bằng để rồi theo kịp vết lăn của những kẻ hành hạ sức khỏe người dân.
Thế nhưng, cuộc sống dạy ta điều này: đồ vật có nguyên vẹn giá trị tự nó của đồ vật, và tùy theo trình độ con người mà giá trị của đồ vật được tôn lên hoặc bị vùi dập đi. Có thấy chị Dương Thị Tân vượt cả ngàn cây số đi thăm nuôi anh Hải Điếu Cày mới thấy hết giá trị anh Hải trong mắt Dương Thị Tân – và cả trong con mắt những ai biết nhìn nhận thấu giá trị của Nguyễn Văn Hải – như trường hợp tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama chẳng hạn. Nào, ngoài Nguyễn Văn Hải Điếu Cày ra, ai được đích thân Barack Obama nêu tên đích danh, xin hãy giơ tay lên cho coi?
Nhân quyền, quyền của con người, quyền được làm người, nếu Hồ Xuân Hương còn sống, hẳn Nàng sẽ viết thế này: Nhân quyền há phải đồ trang sức, Bá ngọ các anh chớ có nhầm!
Hãy mở to mắt nhìn vào lịch sử chừng dăm bảy năm gần đây thôi, chẳng cần phải nghĩ xa xôi đến thời Kiệt Trụ vớ vẩn nào, và sẽ thấy cái nhầm của anh nào đó đã dẫn đường cho anh ta chui vào ống cống. Tổng thống Gaddaffi được Hiến pháp suy tôn tổng thống suốt đời đó. Bá ngọ anh! Bá ngọ cả nút các anh!

Phạm Toàn.