mandag 6. desember 2010

Tiếng Gọi Non Sông (Thơ)



Tiếng Gọi Non Sông.

Anh nghe chăng đồng bào đang rên xiết,
Anh nghe chăng tiếng trống giục Diên Hồng,
Anh nghe chăng cuồn cuộn máu Tiên Long,
Thề diệt giặc đáp đền ơn Sông Núi?

Anh nghe chăng non sông vẫy gọi,
Ngàn con tim oán hận sục sôi.
Anh biết chăng vận nước nổi trôi?
Thề cứu lấy sơn hà cơn tăm tối.

Nghe chăng Anh ơi! Biển đông sóng dậy
Tổ quốc ta đang đợi một bàn tay,
Đồng bào ta mắt ướt lệ hoen dài,
Thì hỡi anh còn chần chờ gì nữa?

Anh nghe chăng gông cùm rên xiết,
Mịt mờ, đâu là hướng đến tương lai?
Bùng lên anh, vùng vẫy chí làm trai,
Ta liều chết để non sông được sống.

Lưỡi liềm đó, giặc xâm lăng cuồng vọng,
Bọn cộng nô đã bán cả biển Đông.
Nhìn non sông máu lệ chảy tuôn giòng
Giặc đã cướp Tây Nguyên rồi anh hỡi!

Anh nhớ chăng tháng ngày trong lửa khói?
Nhắc nhở ai khấn hứa với quê hương
Bảo quốc, an dân với tất cả yêu thương
Nghe anh hỡi! Ôi đoạn trường dân Lạc Việt

Lê Chân.

Quan Niệm Về Chính Trị



Quan Niệm Về Chính Trị.

Cái gì đã khiến một số các ông cũng như các hội đòan thân hữu cũng như các diễn đàn một hai bai bải “chúng tôi tuyệt đối không làm chính trị”?

Lý do đơn giản nhất mà người ta dị ứng với chính trị là quý ngài chưa hiểu rõ tường tận ý nghĩa của “làm chính trị” là như thế nào. “Vô tri bất mộ” tức là không biết mô tê ất giáp gì cả thì không …thích. Đơn giản vậy thôi!

Lúc còn nhỏ, tôi rất sợ ma (bây giờ cũng vẫn chứng nào tật nấy) dẫu cho rằng chưa bao giờ “biết” ma là cái quái gì. Khi còn thiếu suy nghĩ, chưa biết cân nhắc, bị dọa ma nhiều lần đâm ra sợ ma thật. Tương tự như vậy, nhiều người (nhất là tại các nước chậm tiến) ngay từ lúc nhỏ chưa biết hay chưa có cơ hội được đích thực làm chính trị, nhưng nghe người ta bảo “chính trị bẩn thỉu”, “nhức đầu” và “đem lại nhiều rắc rối” từ đó đố ai mà dám làm chính trị. Lần hồi, từ sự vô tri, bất tri, người ta tập dần cái thói quen là cái gì dính vào chính trị đều không tốt.

Lý do thứ nhì là do lòng tham lam ích kỷ. Một chính trị gia kếch sù là một người “cai trị” được nhiều người, có quyền điều khiển nhiều việc hoặc bằng luật pháp hoặc bằng vũ lực. Đây là những người thực sự có power trong việc điều khiển đất nước, có quyền sinh tử và có quyền…. làm giàu. Và với một quyền uy to lớn như vậy, quý ngài chính trị gia nầy không muốn ai BIẾT hay ĐƯỢC làm chính trị như mình. Vì vậy trong các nước độc tài đảng trị, bốc lột, tham tàn như nhà cầm quyền Hà Nội, không những quyền làm chính trị chỉ được giao cho một nhóm người duy nhất mà những ai cả gan làm chính trị sẽ chắc chắn được làm “tù nhân chính trị” mãn đời nếu chưa về chầu diêm chúa. Người dân, vốn bị che tai bịt miệng, và bị khủng bố hằng loạt, liên tục bởi các “chính trị gia” hay nhà cầm quyền nên người dân đã vô tình tiêm nhiễm quan niệm cho rằng làm chính trị tức là đồng nghĩa với tội ác, bất công và phi nghĩa. Đố cát vàng, người ta cũng không muốn làm chính trị.

Lý do thứ ba là do phần lớn người ta chưa có khả năng sinh hoạt chính trị. Hầu hết các thế hệ người Việt trên 50 tuổi, họ hoặc đã bị thúc đẩy tham gia chính trị thay vì tham gia chính trị có ý thức hay chưa có một môi trường chính trị lành mạnh, an toàn để người ta tham gia hoàn toàn.

Ngay tại các nước tân tiến hơn, quyền lực chính trị cũng làm ung nhọt ngay cả những chính trị gia có tài và đạo đức vì vậy mà “absolute power corrupts absolutely.” Trong trường hợp nầy, Chính Trị tự nó không hàm ý tội lỗi nhưng vì sự lạm dụng quyền làm chính trị, và sức mạnh của nó mà chính trị đã vô tình được đồng hóa với những gì tệ hại nhất của con người.

Khách quan và thành thật mà nói, làm chính trị là một quyền trong các nhân quyền mà nếu bị tước đoạt hay chính mình u mê từ chối quyền nầy thì cuộc sống sẽ hoàn toàn vô nghĩa và vô vị.

Quả vậy, sự khác biệt giữa một thế giới súc vật hỗn độn,hỗn loạn và một thế giới có trật tự, quy củ là quyền tham gia trong quá trình tổ chức hay điều hành công việc của xã hội mà mình đang sống. Có lẽ vì vậy mà quyền làm chính trị cũng được hiểu là yếu tố căn bản ắt có và đủ cho thể chế dân chủ. Và như thế, quyền làm chính trị hoàn toàn bị triệt tiêu và không được cổ xướng trong những thể chế độc tài, đảng trị và nô lệ.

Gần đây, hiện tượng trổi dậy của TEA Party tại Hoa Kỳ là một chứng cớ hùng hồn cho người ta hy vọng rằng làm chính trị là một quyền, một phận sự nếu không muốn nói là bổn phận cao cả nhất mà một công dân yêu nước cần và phải thi hành. Những ngưòi tham gia vào phong trào TEA Party đã qua những động tác chính trị dưới nhiều hình thức đi tìm một giải pháp để mưu cầu quyền điều khiển một quốc gia phải đi đôi với sự phục vụ chân thật những quyền lợì chính đáng của và cho người dân.

Trong lúc đó, tại Việt Nam những sự đàn áp dã man các quyền căn bản làm người cũng như những hành vi thô bạo và độc ác của nhà cầm quyền Hà Nội đối với người dân đã được phơi bày càng ngày càng rõ. Gần đây nhất, từ vụ đàn áp thô bạo chiếm đất giáo xứ Thái Hà, giáo Xứ Tam Tòa đến hành động dã man cướp của, giết người giữa ban ngày tại giáo xứ Cồn Dầu, người ta đã thấy rõ ràng rằng chọn lựa làm chính trị của người dân Việt trong nước đã phải bị trả một giá quá cao. Người ta cũng thấy rõ ràng rằng nhà cầm quyền Hà Nội đã không từ nan bất kỳ một thủ đoạn nào, kể cả những hành vi vô nhân đạo nhất để được độc quyền làm chính trị cai trị hơn 80,000,000 người dân Việt. Các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam đã và đang bị nhà cầm quyền Hà Nội áp dụng những phương pháp khủng bố tinh vi và độc hại nhất để tiêu diệt quyền làm chính trị của những nhà trí thức chân chính và can đảm nầy.

Thật là kỳ diệu rằng trong những hoàn cảnh éo le và khó khăn nhất mà các nhà trí thức chân chính tại Việt Nam đang gánh chịu, những ý chí và ước mơ làm chính trị của họ vẫn trưởng thành và sinh sôi nẩy nở.

Trong lúc đó, tại Hoa Kỳ ngay nơi chôn nhau cắt rốn của tự do và dân chủ cũng nhự thừa mứa phương tiện để được làm chính trị vẫn có một số nhà trí thức (?) người Việt hải ngoại điềm nhiên và hân hoan từ chối tham gia vào những hoạt động chính trị. Những hoạt động chính trị nầy là những ước mơ mà đồng bào trong nước đang ngày đêm mong đợi cho chính mình. Và họ cũng đặt nhiều kỳ vọng vào những người Việt hải ngoại đang được hưởng tất cả những gì mà người trong nước đang khao khát.

Có phải chăng con người chỉ nhận ra giá trị của những quyền làm người của mình khi đã đánh mất hay bị tước đọat những quyền nầy? Có phải chăng trong gian nan khốn khó con người mới biết tìm ra cơ hội để cải tiến xã hội (nguy cơ)? Có phải chăng chỉ có người nghèo là người sẽ được giàu nhất? Và có phải chăng người ta chỉ muốn giỡn mặt khi họ nói rằng: Tôi không muốn làm chính trị?

Hà Lê Bích Thủy.

Xin Chớ Lộng Ngôn




Xin Chớ Lộng Ngôn.

Bùi Tín, một cựu Đại Tá Quân Đội Nhân Dân của CHXHCN Việt Cộng, kể rằng ông là người đầu tiên vào tiếp thu dinh Độc Lập từ Dương Văn Minh sau khi viên tướng này kêu gọi quân đội buông súng ngày 30/4 /75. Bùi Tín, mấy lúc sau này đã có những bài đả kích chế độ CS. Trong bài “ Túi khôn dân tộc bác bỏ hoàn tòan Cương Lĩnh của Bộ Chính Trị”, được phổ biến trên đài VOA ngày 15/11, Bùi Tín đã bày tỏ một nỗi mừng vui cuồng nhiệt, một niềm hân hoan tột đỉnh, khi loan báo 20 trí thức hàng đầu của thủ đô Hà nội đã bác bỏ hoàn toàn Cương Lĩnh của Bộ Chính Trị.

Đọc những lời giới thiệu nổ như….tạc đạn của ông Bùi Tín, người cả tin có thể…đứng tim. Trước khi nhập đề, ông trang trọng giới thiệu: “ một tin cực kỳ hệ trọng…một tin động trời, có thể nói là trời nghiêng đất ngả. Một sự kiện chưa từng có trong lịch sử 70 năm của đảng CS VN.Tác động của sự kiện này chưa thể lường hết được.”

Nguyên nhân của sự hớn hở không kiềm chế này, là 20 vị quan quyền trong bộ máy chính quyền CS, những “đỉnh cao trí tuệ loài người” theo lối nói xã hội chủ nghĩa thời toàn trị đã được chuyển qua lối nói mới là những “think tank”, những “túi khôn” đặc sắc, quý báu của dân tộc, mảng tinh hoa của đảng CS, đã cùng nắm tay nhau bác bỏ bản Cương lĩnh của Bộ chính trị soan thảo cho Đại hội XI vào tháng Giêng năm 2011.

Theo lời giới thiệu của ông Tín thì 20 trí thức hàng đầu của Thủ Đô là những đảng viên đảng CS kỳ cựu cấp cao do Bộ Chính Trị quản lý. Những người này đã được đảng tuyển lựa hoc hành bài bản, nói chung giỏi ngoại ngữ Pháp, Anh, Nga, Trung Hoa. Có kinh nghiệm cầm quyền, có thái độ khoa học khách quan, vô tư, phần lớn đã nghỉ hưu.”

Quả vậy, khi nhìn danh vị đi kèm theo tên của các vị này, thì hầu như hơn phân nửa có chữ “nguyên” ở trước danh vị, tức là chỉ làm lớn trong quá khứ. Còn hiện tại thì đã về hưu, hay làm nhỏ lại, thì không ai biết ! Thí dụ như: Trần Phương, Vũ Khoan nguyên phó thủ tướng, Việt Phương, nguyên cố vấn của Phạm Văn Đồng, thủ tướng tử khi CS chiếm quyền tới khi chết già, Dương Thu Hương, nguyên Phó Giám Đốc Ngân hàng, GS Võ Đại Lược, nguyên viện trưởng viện kinh tế thế giới. Số còn lại là những Giáo sư Tiến sĩ của chế độ Hà nội.

Từ khi chế độ CS biến thái để mở cửa ra ngoài thì khi các quan quyền còn tại chức, tức là còn có quyền, có thế, có lợi, có danh, có thể đi ngang về tắt, có thể móc ngoặc được, thì mấy ông “thủ khẩu như bình”, cúi đầu một lòng phục vụ chế độ. Chờ đến khi về hưu, tức là đã trở về đời sống dân gỉả, không quyền, không tước, không còn cơ hội để bon chen, để kiếm chác, thì các ông mới nghĩ tới đất nước. Các ông yêu nước vào…giờ thứ 25 ! Nhưng tiếc thay, lúc đó thì tiếng nói của các ông cũng được nhà nước coi nhẹ tựa lông hồng. Các kiến nghị, thỉnh cầu với lời lẽ cực kỳ lễ phép, với một danh sách ký tên dài thậm thượt, cũng không được nhà nước động lòng trắc ẩn mà cứu xét! Cứ xem như kiến nghị xin ngưng khai khác quặng Bauxit với 2817 chữ ký, hay kiến nghị phản đối việc cho thuê rừng đầu nguồn với danh sách dài dằng dặc những Tướng tá hồi hưu thì biết.

Bản dự thảo cương lĩnh được phổ biến cho mọi người góp ý từ 15/9/2010. Chỉ đọc sơ qua, ai cũng thấy được tính chất đặc sệt giáo điều CS với những ngôn ngữ huê dạng kiểu mới.

Ngay sau khi bản cương lĩnh mới được phổ biến, đã có rất nhiều bài viết trên mạng điện tử, trong cũng như ngoài nước chỉ ra tính chất thủ cựu. Chỉ cần trình độ bình thường cũng có thể nhìn ra ngay những điểm sai trái. Nếu mà phải nhờ, như ông Bùi Tín nói, đến những túi khôn của dân tộc hay là tinh hoa của đất nước mới khám phá ra tính giáo điều này, thì thật không may cho tương lai một đất nước với các “túi khôn”, “think tank” tài giỏi chừng đó.

Theo Bùi Tín thì “cả hơn 20 vị đều tỏ ra có tư duy độc lập, nhưng lại đạt đến sự đồng thuận đến kỳ lạ. Mỗi vị phát biểu sau đều nói lên sự đồng ý sâu sắc với những ý kiến phát biểu trước, chỉ nói thêm những điều mới mẻ, hay nhấn mạnh bổ sung thêm ý của người phát biểu trước. Không có ý nghĩ, quan điểm nào trái nhau giữa hơn 20 vị tham dự hội luận.”. Có người đã ca tụng sự can đảm của các “túi khôn” này, và đề nghị nên phổ biến rộng rãi sự đồng tâm nhất trí phản tỉnh của các đỉnh cao trí tuệ này để cho thấy sự sai trái của chủ nghĩa và chế độ. Nghe thì có vẻ có lý, nhưng có cần phải chỉ ra sự sai trái này không, khi thực tế đất nước bị chiếm đóng, cắt xén cho ngoại bang và người dân làm công ở đợ trên quê hương mình đã là những chứng cớ hùng hồn cụ thể không cần nói ?

Tuy nhiên ở đời khi sự việc diễn ra hoàn hảo quá thì người Mỹ thường nói là : “tốt quá để có thể là thực”. Câu chuyện của 20 người phát biểu ăn ý, tiến thoái nhịp nhàng, giống như một vở tuồng được thưc tập nhiều lần trước khi đem ra trình diễn. Đối với ông Bùi Tín thì có thể là một sự kiện “đáng ngưỡng mộ”, nhưng với những người hiểu chuyện thì biết đâu đây chẳng là một “trò chơi dân chủ” ?. Một câu hỏi nữa là sự đồng tâm lên tiếng của 20 vị này sẽ có kết quả gì ?

Nếu kể về vai vế, thì ai hơn được viên đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp, cánh tay mặt của HCM trong quá trình CS hóa đất nước và trụ cột chống đỡ chế độ? Thế mà những góp ý của Giáp và những tướng tá hồi hưu cao cấp khác cũng chẳng có tác dụng gì trong chuyện bauxite cũng như dâng đất nhượng biển cho Tầu.

Xem như thế thì người ta tự hỏi rằng Bùi Tín, một người xuất thân con quan mà lên tới chức phụ trách báo Nhân dân của CS, đã vì quá nôn nóng ở tuổi gần đất xa trời mà lạc quan tếu hay là “ngây thơ cụ”? Tuy nhiên, nói cho công bằng thì sự lạc quan này cũng ít nhiều giúp cho sự biến thái của chế độ, vì đã truyền sang một số nhà chính trị và làm cho họ dọn mình chờ thời cơ, vì lãnh đạo CS chia phe đánh nhau tới bến.

Nếu đường lối chính trị ở VN có thay đổi là do nhà nước phải thay đổi hay phải ra đi vì hòan cảnh không còn ở được, chứ nhất định không phải vì "20 cái túi khôn của ông Bùi Tín" này !

Hoàng Thế Hiển.

Bối Cảnh Của Ðất Nước Trước Họa Ngoại Xâm



Bối Cảnh Của Ðất Nước Trước Họa Ngoại Xâm.

Từ những thập niên trước, chiến lược xâm lăng và chiếm đóng Việt Nam và Nam Á Châu của Bắc Kinh không cần phải sử dụng quân đội và vũ khí ngay cấp thời. Trung Cộng đã dùng chiến thuật “vết dầu loang”, để tiến chiếm Nam Á Châu trong sự yên lặng. Vì Bắc Kinh cần phải tiếp tục buôn bán với Hoa Kỳ và phương Tây để “giữ máu” (tiền) riêng cho mình và kết khối để chống lại sự lệ thuộc quá nhiều ở khối Tây Phương và Mỹ, Trung Cộng hiểu rằng mọi sự lộ liễu sẽ khiến cho thế giới dùng đó để làm khó dễ mậu dịch và như vậy sẽ ảnh hưởng ngay đến kinh tế Trung Cộng với hơn 500 triệu nhân công nhân sản xuất. Chính sự “giao thương” của Hoa Kỳ và phương Tây đã đưa Trung Cộng lên hàng “siêu cường kinh tế” thế giới với (GDP) tổng sản lượng hiện nay khoảng 7.5 trillion dollars (7,500 tỷ đô la). Qua giao thương mậu dịch Trung Cộng đã cho Hoa Kỳ vay khoảng 1 trillion dollars (1,000 tỷ đô la). (Ở đây phải nói sơ về nguyên tắc của việc “Cho Vay Nợ” thì: - Nước mạnh mà cho nước yếu vay nợ, thì đó là những nhà lãnh đạo khôn ngoan. - Nước yếu mà cho nước mạnh vay nợ, thì đó là những tên “lãnh đạo” ngu dốt. Tại sao?. Trả lời:* Nước mạnh thì đòi được nợ. Đấy là Khôn Ngoan. * Nước yếu thì đã không đòi nợ được mà còn có thể bị ăn đòn nát xương. Đó là Ngu Dốt.)

Vào thời điểm này Trung Cộng coi như đã thiết kế xong ở 3 xứ Việt, Miên, Lào với các căn cứ quân sự phòng thủ bí mật, cũng như các “địa đạo” được đào xuyên các nước (quốc gia) thông thương với nhau. Ví dụ như các tỉnh phía Bắc Việt Nam đã có các đường hầm “bí mật” thông nhau với các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông .v.v. hay Việt Nam, Lào và Campuchea cũng có các đường hầm “bí mật” được đào sẳn từ rất lâu. Nhưng các “đồng chí” Hà Nội và Bắc Kinh cũng nên nhớ cho rằng: với nền khoa học kỹ thuật tinh vi như hiện nay, người ta sẽ dễ dàng nhìn thấy các ‘đồng chí” một cách chính xác, cho dù các đồng chí có “đào hầm” ở bất cứ nơi đâu!.

Hiện nay có người ví rằng nhóm cầm quyền Việt, Miên, Lào chỉ là những tên “đày tớ” của Bắc Kinh thì cũng đúng, Trung Cộng cũng đang tìm cách phá hoại nền an ninh quốc gia Thái Lan và Tân Gia Ba. Indonesia thì đang hỗn loạn bởi thiên tai (núi lửa, sóng thần, bão tố và cũng sẽ còn nhiều vụ tượng tự như vậy nửa). Chúng ta đừng quên rằng Indonesia là một quốc gia Hồi Giáo đông dân đứng hàng thứ nhất trên thế giới hiện nay. Và chắc chắn cũng phải có những cuộc biểu tình chống Mỹ của nhóm người quá khích, khi ông Tổng Thống Obama sẽ dừng chân ở quốc gia này trong chuyến công du Á Châu của ông trước khi đi Nam Hàn và Nhật Bản.

Riêng Nhật bản thì từ năm 1900 cho đến năm 1945. Trong 45 năm này nước Tàu đã 3 lần bị quân đội Nhật Bản đánh bại.

Năm 1901 dưới thời Từ Hy Thái Hậu. Nhật bản là một trong “Bát Quốc Liên Quân” vào chiếm đóng nước Tàu.

Năm 1932, Nhật Bản đã đánh chiếm Mãn Châu và đưa cựu Hoàng Đế Phổ Nghi lên ngôi Vua và thành lập lại triều đình Mãn Thanh cũ.

Năm 1937, sau vụ Lư Câu Kiều Nhật Bản tấn công Trung Hoa, mở đầu cuộc chiến tranh Nhật - Hoa (đệ nhị Thế Chiến).

Trước đó 7 năm (vào năm 1894) Đại Mãn Thanh cũng đã bị quân đội Nhật Hoàng đánh bại thê thảm và nhà Thanh buộc phải ký kết hiệp ước Shimonoseki vào năm 1895 nhường cho Nhật Bản một số đảo trong đó có đảo Đài Loan, đảo Bành Hồ và quần đảo Okinawa. Sau khi đầu hàng đồng minh thì Nhật chỉ còn giữ lại quần đảo Okinawa đến nay.

Theo tin tức trong nước cho hay, thì hiện nay Trung Cộng và Hà Nội đã xây xong tất cả các điểm trọng yếu để chuẩn bị cho chiến tranh như đường xá, cầu cống, hải cảng, tiếp liệu xăng dầu (vấn đề cảng Cam Ranh vừa qua thì đó chỉ là “đòn gió” mà Bắc Kinh đã ra lệnh cho Hà Nội qua Phùng Quang Thanh hay Nguyễn Chí Vịnh chỉ nói Bịp cho vui vậy thôi. Nhưng chắc chắn rằng chẳng có ai mắc mưu. Chắc chưa ai quên vào tháng 7 vừa qua Bộ trưởng Quốc phòng Pháp chính thức đến “thăm” Việt Nam kể từ sau năm 1945 đến nay - 2010-). Vấn đề xăng dầu thì có lẽ Trung Cộng đang thiếu trầm trọng, vì chẳng có nước nào “bán chịu” nhiên liệu cho Trung Cộng. Vì lỡ khi đánh nhau nếu Trung Cộng thua thì ai sẽ trả tiền nhiên liệu cho!, trong khi kho dự trữ nhiên liệu của Trung Cộng chỉ có thể sử dụng trong vòng 3 tuần lễ cho đến 1 tháng. Nhưng quan trọng nhất là Trung Cộng và Hà Nội đã xây xong các khu căn cứ hỏa tiễn nằm sâu trong rừng núi Nam Á Châu, và các “Địa Đạo” giăng mắc khắp nơi trong lãnh thổ Việt Nam từ Nam ra Bắc trong các thành phố lớn, nhỏ của Việt Nam. Các vùng phía Bắc Việt Nam như: Bắc Ninh, Việt Trì, Phú Thọ ..v.v.. và gần đây Hà Nội lấy cớ dời tất cả các bệnh viện ra ngoại thành Hà Nội (theo lệnh của Bắc Kinh).

Như vậy chúng tính biến các công trình đó thành những đường “địa đạo”. Ví dụ như trước đây Hà Nội lấy cớ xây “lăng” cho tên Hồ Chí Minh, thì chúng đã xây một đường “địa đạo” chạy gần lên đến Đông Anh, vì đường này rất dễ cho chúng bí mật chạy sang Tàu khi bên trong Hà Nội có biến loạn. Cũng chính con đường “địa đạo” này (do chuyên viên Bắc Hàn xây giúp) mà trong thời chiến tranh Hà Nội đã chuyển các tù binh POW/MIA Mỹ từ Hà Nội sang Tàu và Bắc Hàn một cách dễ dàng mà ít có người biết. Điều này cũng giống như ngày xưa còn chiến tranh thì Hồ Chí Minh không bao giờ có mặt tại “phủ chủ tịch” vào ban đêm, mà Hồ lại ngủ ở những nơi “địa đạo” này để tránh tình trạng đánh bom (hoặc ám sát) bất ngờ và cũng để dễ dàng cho các “Nữ Hộ Lý” đến phục vụ cho “chủ tịch” họ Hồ một cách tự nhiên và thoải mái hơn.

Vân Anh.

Thế Chiến Lược Mới Của Quốc Tế



Thế Chiến Lược Mới Của Quốc Tế.

Trong quan hệ xã hội giữa người giầu có và người nghèo khổ, thường có khác với quan hệ giữa người giầu với người giầu. Người giầu nhờ có tài sản nên chiếm ứu thế trong các mối quan hệ xã hội, và vì vậy tường quan giữa người giầu và người nghèo là một tương quan bất bình đẳng.

Trong cuộc sống, mặc dầu “ đèn nhà ai, nhà ấy rạng” nhưng nếu có sự vay mượn, nhờ vả người giầu thì người nghèo sẽ không tránh khỏi tình cảnh lệ thuộc mất tự chủ. Với ưu thế tiền tài người giầu dễ nắm quyền lực trong xã hội và trở thành một lực lượng chủ yếu đính hướng phát triển cho tòan xã hội, cho dù họ chỉ là thành phần thiểu số. Ðây là một hiện thực khách quan có tính quy luật. Chính dựa trên hiện thực khách quan này Marx đã hình thành qui luật đấu tranh giai cấp, coi đó như động lực phát triển của xã hội lòai người.Trong quá trình thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản, những môn đồ cuống tín của Marx đã khai thác triệt để qui luật này, gây căm thù giữa kẻ nghèo với người giầu, coi đó như một mâu thuẫn đối kháng chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc đấu tranh một mất một còn.

Thế nhưng thực tế đã cho thấy cái mà Marx cho là qui luật là phản qui luật. Việc thực hiện đấu tranh giai cấp đã không phải là động lực phát triển xã hội mà là vũ khí phá đổ các quan hệ xã hội tốt đẹp giữa người với người, vốn là nền tảng cho xã hội lòai người tồn tại và phát triển đến văn minh tiến bộ, giúp phân biệt được các mối quan hệ trong xã hội lòai người khác với các mối quan hệ trong xã hội lòai thú. Hậu quả bi thảm là sau hơn 70 năm thực hiện đấu tranh giai cấp thông qua cái gọi là cuộc “Cách Mạng Vô Sản” ở Nga, Lênine và những người cộng sản Bolsevick đã phá họai tòan diện đất nước,con người và lịch sử của chính họ. Nền văn minh của dân tộc sống chung đã tụt hậu, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Nga và các dân tộc chư hầu trong Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết cũng như tài nguyên đất nước bị hủy diệt, tàn phá tan hoang. Ða số những người cộng sản đi trước đã phản tỉnh, giác ngộ, song vẫn còn không ít những người cộng sản đi sau ngoan cố tiếp tục tin và thực hiện qui luật đấu tranh giai cấp nói riêng và chủ nghĩa Cộng sản nói chung. Trong số đó, có thiểu số những người cộng sản Việt nam thủ cựu, giờ này vẫn còn tin hay giả vờ tin rằng “ hậu sinh khả úy”. Nghĩa là cho rằng dù Liên Sô và các nước cộng sản đàn anh đã giẫy chết, nhưng họ tài giỏi hơn, có thể tiếp tục xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam bằng qui luật đấu tranh giai cấp với một chính quyền chuyên chính vô sản!

Mặt khác, trên bình diện bang giao quốc tế cũng thế, các nước giầu thường chiếm ưu thế, có khả năng khuynh đảo và kiềm tỏa các nước nghèo trong vòng lệ thuộc. Hầu như mọi mối quan hệ giữa nước giầu và nghèo đều trên cơ sở bất bình đẳng. Một đặc điểm đáng quan tâm nữa là các nước giầu thường coi các nước nghèo như đối tượng để khai thác và làm bàn đạp để phát triển.

Thực vậy, sau khi thóat khỏi vòng cường tỏa của các nước thực dân cũ, các nước nghèo thực sự chỉ là một quốc gia độc lập trên nguyên tắc, thực tế vẫn bị lệ thuộc về chánh trị, kinh tế cũng như tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề về văn hóa của các nước giầu. Trong gọng kìm của chủ nghĩa thực dân mới các nuớc nghèo đã mất quyền dân tộc tự quyết nên không thể tự chọn cho mình một chế độ chính trị thích hợp. Mất chủ quyền nên không tự chủ được về đối nội cũng như đối ngọai. Ngay cả việc chọn lựa người trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao cầm quyền cũng có sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của nước giầu mà nước nghèo nằm trong quỹ đạo. Trong thời kỳ Chiến Tranh Ý Thức Hệ người ta thường dự đóan thành phần nhân sự lãnh đạo tối cao trong các quốc gia nghèo căn cứ trên những dấu hiệu từ Tòa Bạch Ốc hay điện Cẩm Linh hơn là sự tín nhiệm của nhân dân trong nước. Vì vậy nhà cầm quyền trong các nứơc nghèo dù muốn dù không đã là công cụ thực hiện đường lối cai trị đất nứơc theo chiều hướng chiến lựơc tòan cầu của các nước giầu, theo sự chỉ đạo của các cực cường hoặc cường quốc có ảnh hưởng trực tiếp.

Ðể chỉ đạo hay ảnh hưởng đến các nước nghèo, các cực cường thường xử dụng chính sách viện trợ, hệ tư tưởng và khi cần thiết có thể xử dụng bạo lực gián tiếp thông qua các lực lượng bản xứ, hoặc trực tiếp can thiệp bằng hành động quân sự để lật dổ, thay thế nhà cầm quyền. Lực lượng bản xứ cũng thường do nước giầu chuẩn bị để kịp thời đáp ứng khi cần một sự thay thế công cụ không còn thích dụng hay muốn đi ra ngòai quỹ đạo.

Tựu chung, để kềm tỏa các nước nghèo, các nứơc giầu nói chung, các cường quốc cực nói riêng, luôn duy trì một tình trạng bất ổn, nội lọan (đảo chánh, thanh trừng) và chiến tranh và thực hiện chính sách chia để trị. Tất cả sự thể này đều có thể tìm thấy những dẫn chứng sống động qua những gì mà hai cực cường Mỹ, Nga đã thực hiện với các nước đồng minh hay đồng chí (nghèo) nằm trong quỹ đạo của họ trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu vừa qua.

Tại Châu Á có thể lấy điển hình cho mối quan hệ giầu nghèo qua quan hệ Mỹ – Việt, Việt - Nga, Việt – Trung. Trong khung cảnh cuộc chiến tranh ý thức hệ các cực cường đã duy trì tình trạng “Chiến tranh nóng” nơi nước nghèo Việt Nam. Ðể thực hiện ý đồ riêng thông qua cuộc chiến tranh này, các cường quốc chủ đạo mỗi bên đã xử dụng phương thức riêng để lèo lái các tập đòan công cụ lãnh đạo bản xứ. Những người cầm đầu các tập đòan công cụ lãnh đạo luôn luôn được sự chọn lựa hoặc chuẩn phê trước của Washington hay Moscow. Nhân dân Việt nam như bị đặt trước một chuyện đã rồi trong việc chia cắt đất nước , chọn lựa thể chế chính trị cũng như người lãnh đạo đất nước.. Mọi quan hệ đối ngọai cũng như chánh sách đối nội đều bị các cực cường khống chế và kiềm tỏa, khi thì kín đáo, lúc thì xỗ xàng.

Viện trợ là bàn tay nhung, CIA tạo sự bất ổn hoặc đảo chánh là bàn tay sắt, là một nét đặc trưng không chỉ thấy thể hiện trong quan hệ Việt – Mỹ thời bấy giờ, mà còn thấy thể hiện ở nhiều nước nghèo khác tại Á Châu và nhiều nước nghèo khác trên thế giới. nằm trong quỹ đạo của Mỹ. Trong khi đó, các cực cường Liên Xô, Trung Quốc còn khống chế và lèo lái kín đáo và chặt chẽ hơn nhiều trong mối quan hệ Việt – Sô và Việt – Trung, bằng chiếc thòng lọng là “Sợi chỉ đỏ”(hệ tư tưởng Marx – Lenine). Các cực cường này đã cột chặt tập đòan thống trị bản xứ là đảng Cộng Sản Việt Nam trong một cơ chế đảng truyền và hệ thống cộng sản quốc tế. Nhân sự và đường lối chỉ đạo thực hiện “Chiến tranh cách mạng”, hay “chiến tranh giải phóng” phải đi đúng chủ trương, đường lối và mục tiêu chiến lược của “Cách main vô sản thế giới”, dưới sự lãnh đạo tối cao của Liên Sô. Chi viện kinh tế, quân sự cũng được coi là bàn tay nhung bên cạnh bàn tay sắt là thúc đẩy thanh trừng nôi bộ đảng Cộng sản Việt nam cũng được xử dụng trong mối quan hệ Việt – Sô và Việt - Trung.

Tựu chung, trong thời kỳ chiến tranh ý thức hệ vừa qua, Việt Nam đã mất độc lập, chủ quyền trong quan hệ quốc tế cũng như đối nội. Tương quan giữa Việt Nam và các nước Mỹ, Nga, Tầu là một tương quan bất bình đẳng và lệ thuộc. Ðó là tương quan không thể khác được giữa một bên là nước giầu mạnh, chiếm ưu thế trên một nước nghèo yếu thất thế như Việt nam.

Mặt khác, cũng trong tương quan giữa nước giầu và nghèo, nhiều khi một nước giầu tự ban cho mình có cái quyền can thiệp vào nội tình của các nước nghèo, nhân danh một điều chính đáng nhưng không hợp pháp, tỷ như hành động can thiệp quân sự của Mỹ vào Panama năm 1990 bắt lãnh tụ xứ này là Tổng Thống Ortega đem về Hoa Kỳ xử tội buôn bán bạch phiến. Hoặc hành động đưa quân đội vào đảo quốc Haiti vào cuối năm 1994 gọi là để vãn hồi dân chủ cho xứ này. Ðó cũng là hành động tương tự của Liên Sô khi dùng qân đội Sô Viết bắt Ông Dubcek và các lãnh đạo cải cách dân chủ Tiệp Khắc vào Mùa Xuân năm 1976, một hành động ngang ngược vừa không chính đáng, vừa bất hợp pháp đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Ðồng thời các cường quốc cũng tự ban cho mình cái quyền đặt ra luật pháp quốc tế mà chính mình như không có nghĩa vụ tuân theo. Tỷ như hành động gọi là “Dậy cho Việt nam” một bài học của Trung Quốc vào năm 1979, khi ngang nhiên xua quân chiếm cả một vùng biên giới Phía Bắc của Việt nam, một nước có chủ quyền và là hội viên Liên Hiệp quốc. Hoặc hành động lấn chiếm quần đảo Trường Sa của Trung Cộng trước thái độ thờ ơ của Liên Hiệp Quốc, vốn là cơ quan bảo vệ luật pháp trong quan hệ quốc tế và hóa bình thế giới.

Như vậy, các nước nghèo muốn có được độc lập, tự chủ và bình đẳng trong bang giao quốc tế, không có con đường nào khác là phải tìm mọi cách vươn mình lên, thóat cảnh nghèo nàn và lạc hậu để bước vào hàng ngũ các nước giầu. Ngày nào còn nghèo yếu, độ clập, tự chủ và bình đẳng chỉ là những mỹ từ, không có tực chất đối với các nước nghèo. Ðây là một yêu cầu, một điều kiện ắt có và đủ để các nước nghèo có được quyền dân tộc tự quyết và được tôn trọng trên trường quốc tế.


Nhìn vào thực tại, đã có những điển hình đáng quan tâm. Một nước Nhật Bổn đã phục hồi địa vị cường quốc sau chiến tranh. Một Thái Lan, Nam Hàn, Ðài Loan, Tân Gia Ba, trước chiến tranh Việt nam còn là những nước nghèo, kinh tế lệ thuộc, ít được thế giới biết đến. Thế mà chỉ hơn 10 năm sau chiến tranh Việt nam, với ý chí quật cường dân tộc, với tài lãnh đạo có trách nhiệm của nhà cầm quyền trong khung cảnh một chế độ dân chủ thích hợp và đường lối phát trển kinh tế hữu hiệu, các nước nghèo này đã vươn lên bước được vào hàng ngũ thế giới giầu. Thế giới đã nghiêng mình bái phục về tốc độ phát triển và thành quả kinh tế bằng hình ảnh diễn đạt cụ thể: Bốn con Rồng Châu á. Coi người lại nghĩ đến ta: Trong khi đó Việt nam đất nước chúng ta thì sao?

Việt nam vẫn đứng trong hàng ngũ các nước nghèo và con là một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, với lợi tức bình quân tính trên đầu người trên dưới 200 đô la Mỹ một năm. Vì sao nước ta đến nông nỗi này? Thiếu tài nguyên thiên nhiên và nhân lực ư? Nhất định là khôn. Vì bao đời nay đất nướ cta từng được đánh giá là một giang san gấm vóp chậy dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu, với “Tiền rừng bạc biển” kia mà?. Hiện nay với số dân trên 80 triệu, với tài nguyên phong phú, đa dạng, với những con người Việt Nam thông minh có óc sáng tạo và lao động cần cù, ai dám bảo đất nước này thiếu nhân lực và tài lực? Hay bởi tại cuộc chiến tranh kéo dài đã làm kiệt quệ tài nguyên nhân lực đất nước? Có thể một phần, nhưng kiệt quệ nào bằng nước Nhật Bổn sau chiến tranh? Nhưng dù vậy vẫn có nhiều thuân lợi mới trong hòa bình, thống nhất tổ quốc, với hàng tỷ đô la cái gọi là “Chiến lợi phẩm của Mỹ Ngụy” để lại. Hay là tại Mỹ cấm vận và bị các nước giầu bao vây kinh tế? Ðây cũng chỉ là một trong nhiều lý do biện bạch của giai cấp thống trị cho thực trạng suy đồi tòan diện của đất nước.

Thực ra tất cả mọi khó khăn đều có thể khắc phục được để vươn lên như “Bốn con Rồng Châu Á”, nếu như đất nước ta sau chiến tranh có được một ê-kíp lãnh đạo tài năng và đạo đức, trong khung cảnh một chế độ chính trị khác hơn và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng đúng ý nguyện của tòan dân, chứ không phải tham vọng của những kẻ cầm quyền.

Vậy thì, Việt nam chúng ta phải làm gì đây để thóat khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, để bước vào hàng ngũ các nước giấu? Tất nhiên câu trả lời không đơn giản và dễ dàng hiện thực, vì nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan cũng như khách quan của đất nước và của cả dân tộc Việt nam. Vì vậy ở đây chúng ta chỉ xin đưa ra một hình ảnh có tính biểu tượng như mội gợi ý cho câu trả lời.

Rằng trong thân phận các nước nghèo nói chung Việt nam nói riêng có thể ví như con diều muốn cất cánh lên được phải có gió đủ mạnh. Do đó, nếu chúng ta chỉ có “gió nội lực”, nghĩa là chỉ dựa vào nhân lực, tài lực trong nước thì chưa đủ sức mạnh để đưa “con diều Việt nam” cất cánh và cất cánh lên cao. Muốn cất cánh lên được và cất cánh lên cao chúng ta phải có thêm “Gió ngọai lực” là các nguồn tài trợ từ bên ngòai, hợp với “gió nội lực” thành ngọn “gió tổng hợp”. Nhưng có được ngọn “gió tổng hợp” này rồi, “con diều Việt Nam” vẫn chưa thể cất cánh lên được, nếu thiếu một “nghệ thuật lái diếu”. Chúng tôi muốn đề cập đến một ê-kíp lãnh đạo tài đức ra sao, trong khung cảnh một chế độ chánh trị thế nào để có đủ năng lực huy động được ngọn “gió tổng hợ”, lèo lài một cách nghệ thuật để đưa được “con diệu Việt Nam cất cánh lên được và cất cánh lên cao”.

Bởi vì, ai cũng biết, có thể cũng con diều ấy, ngọn gió ấy, trong tay người này điều khiển con diều cất cánh được và cất cánh lên cao, trong tay người khác điều khiểncon diều có thể ụp xuống. Vì vậy, chúng ta cũng như ý nghĩ của đa số nhân dân Việt Nam cho rằng: Ngày nào đất nước ta còn chịu sự lãnh đạo của một ê-kíp những người lãnh đạo cộng sản thủ cựu, kém tài, kém đức, trong khung cảnh chế độ độc tài đảng trị như hiện nay, “Con diều Việt Nam” vẫn chưa thể cất cánh và cất cánh lên cao được.

Tóm lại, Thế giới từ lâu đã như được phân định thành hai thế giới giầu và nghèo. Thế giới giầu bao gồm các giầu mạnh, trong đó nổi lên một số nước có sức thu hút, khuynh đảo đóng vai cực cường, liên kết nhau trong thế liên minh chánh trị, kinh tế hay quân sự. Các liên minh hình thành và hợp tan tùy thuộc vào quyền lợi tương đồng hay dị biệt. Các cực cường thường nắm giữ các trung tâm quyền lực thế giới và định hướng phát triển cho một thời đại.

Trong khi đó, thế giới nghèo bao gồm các nước nghèo yếu, tuy cùng chung số phận, dễ cảm thông nhưng khó đòan kết do âm mưu chia để trị của các nứơc giầu. Và vì vậy, các nước giầu thường coi các nước nghèo như đối tượng để khai thác và là bàn đạp để phát triển

Tương quan giữa các nước giầu mạnh với các nước nghèo yếu là một tương quan lệ thuộc một chiều, bất bình đẳng. Các nước nghèo muốn có độc lập chủ quyền và được đối xử bình đẳng, không có con đường nào khác là phải tìm cách vươn mình lên để bước vào hàng ngũ các nước giầu. Việt Nam chúng ta ngày nào chưa thóat khỏi cảnh nghèo yếu, ngày ấy độc lập, chủ quyền và bình đẳng chưa thể có được trong quan hệ quốc tế.

Thiện Ý.

‘Nhà Nước Mafia’



Thẩm phán và công tố viên cao cấp của Tây Ban Nha cho đại sứ quán Hoa Kỳ tại Madrid hay các nước Nga, Belarus và Chechnya thực tế là ‘nhà nước mafia’, theo tài liệu mật công bố trên website WikiLeaks.

Một điện tín ngoại giao cũng đặt câu hỏi liệu tổng thống Nga Vladimir Putin có dính đến đường dây mafia tại Nga hay không.

Một điện mật khác tiết lộ một thương nhân có thế lực tại Ukraine cho quan chức Hoa Kỳ hay ông có mối liên hệ với băng đảng tội ác có tổ chức tại Nga.

Các điện tín này nằm trong nhiều trăm hồ sơ mật công bố trên website WikiLeaks, mạng thông tin công khai các bí mật của chính phủ.

Thứ Tư 1/12, tin nói rằng hãng bán hàng trực tuyến Amazon đã gạt Wikileaks ra khỏi máy chủ. Giới chức Hoa Kỳ hoan nghênh quyết định này.

Cũng trong ngày này, việc truy cập website WikiLeaks có lúc được lúc không. Kể từ khi máy chủ của mạng công bố thông tin mật đặt tại Thụy Điển bị tấn công tin học hồi đầu tuần, WikiLeaks phải mượn tạm máy chủ của Amazon.

Điện tín ngoại giao, do báo Guardian tại Anh công bố, cho thấy tháng Giêng 2010, công tố viên người Tây Ban Nha, Jose "Pepe" Grinda Gonzales nói rằng ở Nga, Belarus và Chechnya, “người ta không thể phân biệt đâu là hoạt động của nhà nước, đâu là hoạt động của các nhóm tội phạm có tổ chức.”

Thẩm phán Grinda từng cầm đầu nhiều cuộc điều tra tốn thời gian liên quan đến hoạt động của tội phạm có tổ chức người Nga tại Tây Ban Nha. Gần đây 60 người đã bị bắt giữ.

Một điện tín từ tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Madrid nhắc đến “câu hỏi chưa có lời giải đáp”, rằng ông Putin liên quan đến mafia tới mức độ nào, và liệu ông có kiểm soát các băng nhóm tội phạm hay không.

Tin đưa thẩm phán Grinda nói rằng cựu điệp viên của Nga, Alexander Litvinenko, người bị ám sát bằng thuốc độc ở Luân Đôn cho rằng tình báo Nga kiểm soát băng đảng tội ác ở Nga. Điện tín nói rằng ông Grinda tin lời giải trình này là chính xác.

Trong bức điện ngoại giao, thẩm phán Tây Ban Nha có ý nói ông có trong tay thông tin rằng hầu hết các đảng phái chính trị tại Nga hoạt động “phối hợp” với tội phạm có tổ chức.

Điện tín bị rò rỉ cũng nhắc đến khía cạnh Washington tin rằng ông Putin có biết thủ phạm ám sát ông Litvinenko ở Luân Đôn năm 2006. Điện Kremlin bác bỏ cáo buộc họ liên quan.

WikiLeaks cũng tiết lộ một điện tín khác, từ đại sứ quán Mỹ ở Kiev. Thời gian khi ấy là tháng 12 năm 2008. Bức điện nói đến một thương gia có thế lực tại Ukraine, người thường giao dịch với công ty dầu khí quốc doanh Gazprom của Nga, cho đại sứ Mỹ hay ông có quan hệ với tội phạm có tổ chức tại Nga.

Thương gia này nói, ông cần sự hậu thuẫn của trưởng nhóm băng đảng, có tên Semyon Mogilevich, mỗi khi tiến hành thương vụ.

Các cơ quan phòng chống tội phạm của Mỹ và Âu châu tin rằng Mogilevich là “cha già” của các đường dây tội phạm có tổ chức người Nga trên toàn thế giới.

Trần Hùng.

Thiếu Tướng(CSVN)Nguyễn Trọng Vĩnh Lên Tiếng



Thiếu Tướng(CSVN)Nguyễn Trọng Vĩnh Lên Tiếng.

Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.
Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.
Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tửchỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.
Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?

Tác giả Nguyễn Trọng Vĩnh (95 tuổi)
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.

Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng "hữu nghị" như từ 1919 đến nay.