onsdag 19. mai 2010

Chuyện Hoang Ðường

Chuyện Hoang Ðường.

Ngày 30 tháng tư, trong khi hải ngoại tổ chức lễ tưởng niệm để nhìn lại ngày miền Nam sụp đổ mà rút kinh nghiệm CS thì trên mạng điện tử CS có những bài báo “hồ hởi” viết những câu chuyện…. “xích lại gần nhau “của những thành phần thuôc 2 chế độ VNCH và CS.

Bài “Bắc nhịp cầu, xóa hố sâu ngăn cách “kể lai câu chuyện Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng VC, Thượng Tướng Phan Trung Kiên “thân ái” bắt tay Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn Tướng, phụ tá Tổng Tham mưu Trưởng quân lực VNCH sau khi ông Nguyễn Hữu Hạnh đọc bài tham luận trong cuộc Hội Thảo: “Đại Thắng mùa Xuân 1975” do Bộ Quốc Phòng và Thành Ủy TP. HCM tổ chức ngày 20 tháng 4.

Bài báo diễn tả: “Nhiều người lặng đi, khi Thượng Tướng Phan Trung Kiên từ phía bàn chủ tọa đứng dạy và bước nhanh về phía ông Hạnh, rồi bắt tay ông thực chặt. ông Kiên nói: “Từ hồi kháng chiến chống Mỹ, tôi và nhiều đồng đội khác ở Saigon-Gia Định đã biết tên ông, nhưng chưa biết mặt. Ông thiệt là trái dưa hấu vỏ xanh lòng đỏ..”

Nguyễn Hữu Hạnh là một tên VC nằm vùng, một tên ăn cơm quốc gia, thờ ma CS, được đặc ân tham dự cuộc Hội Thảo và thứ trưởng quốc phòng thân ái bắt tay như một nhân.chứng lịch sử, thì cũng được, đối với những người Cộng sản. Nhưng khi coi Nguyễn Hữu Hạnh như là một đai diện cho các quân nhân VNCH để gọi là cổ võ cho cái gọi “bắc một nhịp cầu xoá hố sâu ngăn cách” thì một là cường điệu, hai là ngớ ngẩn, vì sự giả trá này không thể nào có chút tác dụng gì hết. Nó dở hơn cả chuyện dùng viên tướng playboy Nguyễn Cao Kỳ quảng cáo cho chế độ. Tuy tác giả bài báo có tồi, nhưng Phan Trung Kiên không đến nỗi tệ, khi đóng trò bắt tay xí xoá mà biết ví von Nguyễn Hữu Hạnh với trái dưa hấu “xanh vỏ đỏ lòng”, gián tiếp nói đến cái thành tích nằm vùng của Hạnh.

Như vậy, thì bài báo này thay vì cổ võ cho “hòa hợp hòa giải” lại chỉ có tác dụng phản tuyên truyền của cái trò hề là “VC bắt tay VC”. Và cái nhịp cầu này không những chẳng xóa được cái hố sâu ngăn cách mà chỉ xụp đổ như cầu Cần Thơ bị…rút ruột dạo nào, làm tổn phí biết bao tiền vay nợ và viện trợ, cũng như nhân mạng.

Một bài báo khác nhan đề: “Chuyện của Tổng Trưởng Quốc Phòng Chế Độ cũ” kể chuyện viên đại tướng trụ cột chế độ Võ Nguyên Giáp, lần đầu tiên gặp trung tướng VNCH Nguyễn Hữu Có đã cầm tay mà nói: “Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến, nhưng nay, ta đã là 2 anh em.” trong lần đầu tiên ông Có được Mặt Trận Tổ Quốc cho ra Hà nội họp làm cảnh. Và bài báo kết luận: “Một biểu tượng của hòa hợp dân tộc”.
Chỉ một cái bắt tay xuông và một câu…ba hoa chích chòe, chưa chắc đã có thực, từ cửa miệng của kẻ thắng trận với một kẻ bị thua trận bị tù 12 năm mà dám kết luận là “biểu tượng của hoà hợp dân tộc” thì quả là chỉ có VC mới đủ trơ trẽn mà làm được. Hòa hợp hòa giải phải tới từ 2 phía: 2 trái tim rộng mở, và hai tâm hồn cùng hòa đồng. Trong hòan cảnh này, ông Nguyễn Hữu Có, có thể… “vì thời thế, thế thời phải thế” . Ông im lặng, không hề phát biểu hay có hành động gì chứng tỏ sự hợp tác của ông ngoài câu mà bài viết ghi lại là ông đã từng tâm sự, rằng: “Là kẻ chiến bại còn ở lại, tôi phải chấp nhận mọi tình huống nguy hiểm xảy ra.”

Hòa hợp hòa giải không phải chỉ nói miệng một chiều mà được !
Mới đây, Chủ Nhiệm Ủy Ban Nhà Nước về người VN ở nước ngoài, Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn gửi một bức thư cho ông Cao Quang Ánh vào ngày 3/31/2010, nhờ vị dân biểu Mỹ gốc Việt này tổ chức những cuộc trao đổi giữa phái đoàn của NTS và người Việt ở hải ngoại để xóa tan những “ngộ nhận”, “những thông tin thiếu đứng đắn”. Tuy nhiên, thỉnh cầu nhờ tạo cơ hội để tuyên truyền này đã bị dân biểu Ánh dứt khoát khước từ và còn cảnh cáo CS đã vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo v…v..
Hòa hợp hòa giải dễ hay khó ?

Theo nguyên lý nhân quả đức Phật đã chỉ ra thì gieo nhân, phải hái quả. Từ hơn nửa thế kỷ nay, CS VN đã gieo rắc nhiều thảm họa, oan khiên cho dân tộc. Vụ cải cách ruộng đất đẫm máu thập niên 50, chết mấy trăm ngàn người.; Vụ “Nhân văn giai phẩm” đầy đọa những văn nghê sĩ đã phục vụ cho chế độ từ khi còn trứng nước; Vụ chôn sống tập thể trong biến cố Tết Mậu Thân; những trại học tập cải tạo giam giử hành hạ “ngụy quân, nguỵ quyền”; những vụ đánh tư sản mại bản, đổi tiền, đi kinh tế mới, đã gieo rắc kinh hoàng cho người dân miền Nam. Đến độ người ta phải liều chết bỏ nước ra đi, chẳng thà bỏ mạng trên biển cả, hay làm mồi cho hải tặc còn hơn sống chung với bọn CS vô nhân tính. Và đã nẩy ra câu nói “cái cột đèn mà đi đuợc thì nó cũng đi”. Và ngay bây giờ thì bàn nước buôn dân đủ mọi hình thức. Nhân xấu mà không muốn lãnh quả xấu thì không thể nào được.

CS đã làm gì để giảm những sự đau đớn, nỗi kinh hoàng này? Hay là chỉ như Nguyễn thanh Sơn và đồng bọn trước đây đã đổ lỗi cho thiếu thông tin đúng đắn? Có chỉ dấu gì là lãnh đạo CS muốn dẹp các biện pháp đang gây thống khổ cho người dân Việt nam hiện nay và mai sau, ngoài sự kết án chung chung để khoả lấp?
Bỏ sang bên cái luật nhân quả không cưỡng nổi, thì không thể nào mà lại có thể hoà hợp hoà giải với kẻ không hề muốn hoà hợp, mà chỉ có nói đầu môi chót lưỡi để lừa gạt, với sự tung hứng, toa rập của một đám thời cơ muốn dây máu ăn phần.
Mà hòa giải với tập đoàn lãnh đạo Hà nội để làm gì ? Để được đứng đằng sau lưng đảng độc tài toàn trị? Để học tập theo gương đạo đức gỉa của HCM ? Để phát biểu “đi trên lề phải”? Hay để làm công cụ cho bè lũ chính quyền bán nước buôn dân, tội đồ của dân tộc ?

Xin đừng phí giấy mực và thời giờ để nói chuyện… hoang đường hoà hợp hoà giải với những kẻ cầm quyền Cộng sản biến thái trong hoàn cảnh hiện nay.

Trương Vĩnh Khôi.

Chống Giặc Tàu Xâm Lược Hai Đảo Hoàng Sa-Trường Sa

Chống Giặc Tàu Xâm Lược Hai Đảo Hoàng Sa-Trường Sa.

Suốt 75 năm qua, CSVN lúc nào cũng tìm đủ mọi cách để trương ngọn cờ máu trên lãnh thổ Hồng Lạc. Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt VN thành hai miền riêng biệt tại vỹ tuyến 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới. Theo quy định, mỗi một miền được đặt hai đồn canh, dọc theo bờ sông giới tuyến: Đồn Hiền Lương và Cửa Tùng (Bắc Việt), Xuân Hòa và Cát Sơn (VNCH), cả hai phía đều có treo cờ hằng ngày. Và đó là nguyên nhân đã làm hai phía đổ máu nhiều lần vì Lá Cờ được treo ở hai đầu cầu Hiền Lương.
Thời gian đầu thi hành Hiệp định (1954-1956) còn có sự hiện diện của các toán kiểm soát đình chiến, nên hai phía vẫn tôn trọng cở lá cờ được qui định 3,2x 4,8m. Nhưng từ sau năm 1956, phía VNCH bên đồn canh Xuân Hòa luôn thay đổi khổ lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, theo lệnh của các đơn vị trưởng trấn đóng miền giới tuyến. Thế là trận giặc Chọi Cờ bùng nổ hai bên bờ sông Bến Hải , mà phần thắng luôn về phía VNCH vì có đủ phương tiện và được tự do quyết định hơn phía CSBV. Theo các tài liệu còn lưu trữ cho biết suốt 20 chia cắt, cả hai phía đã thay đổi cở cờ tới 267 lần để ăn thua, trong đó nhiều lần cột cờ phía bắc bị máy bay oanh tạc mà nặng nhất vào năm 1967, cả cột cờ, đồn canh và cầu Hiền Lương về phía CS bị bom đánh xập.
Có hiểu thấu những câu chuyện bên lề lịch sử, chúng ta mới thấy được tầm mức quan trọng và thiêng liêng của lá cờ. Cho nên không ai có thể muốn người khác phải theo ý mình , đứng chung dưới một ngọn cờ mà trong thâm tâm của họ, đã coi nó như là biểu tượng của một chế độ dã man, xấu xa bán nước như lá cờ máu của Cộng Đảng VN.
Theo sử liệu, thì quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà Đức Gia Long Hoàng Đế, đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 năm nội chiến triền miên, giữa các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn.
Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.. Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, còn tìm thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng lịch sử, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị An Nam hay Giao Chỉ .Thời Pháp thuộc, thực dân cũng sử dụng những danh từ hạ bạc của người Tàu trong quá khứ, mục đích cũng chỉ để làm nhục dân tộc VN mà thôi.
Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào thời Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiếc thay triều đại trên quá ngắn ngũi, nên việc sử dung quốc hiệu VN cũng theo vận nước trôi vào quên lãng.
Riêng hai tiếng VN cũng đâu có khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn bấp bênh trong dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt.
Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.
1 - Cờ Đỏ Sao Vàng Của Đảng CSVN:
Về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì đang sử dụng hai lá cờ: Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến. Ngoài ra Việt Cộng còn xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.
Căn cứ các nguồn sử liệu hiện tại, thì lá cờ máu trên được gọi là Hồng Kỳ (Cờ Đỏ), do Nguyễn Hửu Tiến đã vẽ và xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 11-1940. Tuy nhiên Lá Cờ Đảng đã xài từ sau ngày 20-7-1954 tới nay, đã khác với Kỳ Hiệu của Phong Trào Việt Minh, vì các cạnh của Ngôi Sao Vàng không còn là đường cong, mà đã trở thành đường thẳng, y chang Cờ Liên Xô và Trung Cộng.
Tổng hợp các tài liệu viết về phong trào đầu tiên của Cộng Sản Tàu tại Huyện Phúc Châu (Fuzhou) tỉnh Phúc Kiến, vào năm 1934, đã tìm thấy Lá Cờ Đỏ Sao Vàng, mà CSVN đang sử dụng làm quốc kỳ từ đó đến nay. Ngoài ra Đảng còn xài thêm Lá Cờ Búa Liềm, đã sao chép của Liên Xô. Đây là những lá cờ của ngoại bang đem về, nên làm sao có thể bắt buộc mọi người phải tôn trọng, trừ phi họ bị áp buộc và khủng bố .
2 - Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ:
Quốc dân VN thì chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954. Sau đó, dù đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ của quốc dân VN. Kể từ ngày 1-5-1975, tuy đất nước VN bị cọng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu ngươì Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng của Tổ Quốc và Dân Tộc VN.
Tại Úc và nhất là Hoa Kỳ, hai quốc gia tự do có nhiều người Việt tị nạn định cư, sau bao chục năm đấu tranh liên tục, nên đã đạt được ý nguyện, thỉnh cầu chính quyền sở tại, công nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VN, như là một biểu tượng tinh thần cao quý nhất của Cộng Đồng VN tị nạn. Sự kiện mới đầy, chính quyền tại Tiểu Bang California (Hoa Kỳ), ban hành quyết định công nhận Lá Quốc Kỳ VN Hải Ngoại, là một chiến thắng lớn của người Việt, trên đường đấu tranh quang phục đất nước.
Về nguồn gốc của Lá Cờ, căn cứ theo tác phẩm Quốc Kỳ Việt Nam của tác giả Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì quốc kỳ VN được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần : Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự Đại Nam Khâm Sứ . Cũng từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.
Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội các gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (–-)trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.
Tháng 2-1946, DArgenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bị quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương trên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp, đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khiến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.
Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp.
Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, đã đề nghị Thủ Tướng Xuân, sử dụng danh xưng Nam Phần VN , để thay thế cái gọi là Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị , mà Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca - Quốc Kỳ cho cả nước.
Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau: Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.
Trong thành phần Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho Quốc Gia VN độc lập, lúc đó có Nguyễn Hữu Thiều là chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sài Gòn. Cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.
Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm Con Rồng Việt Nam (Le Dragon DAnnam), xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện diện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.
Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, vì nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó là cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam cọng sản quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn lịch sử, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.
Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền Trung bên kia vỷ tuyến 17 vì công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.
Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng 2/3 chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN.
Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lý Thanh Cần), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát Thanh Niên Hành khúc của Lưu Hữu Phước sáng tác làm Quốc Ca, vì lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh.. nên tim-óc, chữ nghĩa, chỉ hướng về hồn nước, hồn người. Đó cũng là lý do mà Chính phủ VNCH khi trước và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại hiện nay, không thay đổi bài hát nào khác, dù bài VN-VN của Phạm Duy, rất được nhiều người ưa thích nên đề nghị dùng nó để thay thế bài hát của họ Lưu.
Cũng liên quan tới Lịch sử Lá Quốc Kỳ, trong tác phẩm Việt Nam Nhân Chứng, cựu tướng Trần Văn Đôn đã viết là, chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim.. chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội Pháp , thì chừng nào mới tới phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái .. mới được mời họp với ý kiến và quyết định.
Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được sự thiêng liêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận.
Quốc kỳ VN như một ngọn đuốc, soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt. Cũng nhờ Lá Quốc Kỳ, mà những người Việt lưu vong tị nạn khắp bốn phương trời, sau ngày mất nuớc 30-4-1975, đã ngồi lại với nhau để cùng sớt chia buồn vui vận nước. Đó là cấp lãnh đạo tối cao nhất của Cộng Đồng VN Tị Nạn Hải Ngoại, hầu như từ truớc tới nay chưa có ai dám phản đối hay xúc phạm.
Có còn nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định.. Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975, lá cờ lại đẳm thêm thịt xương, máu và nước mắt Lính.
Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia, lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Quảng Trị.. đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đã gục ngã, trong quyết tâm làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng.
Năm 1973, cọng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, được công khai đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những lá cờ máu, khiến cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cọng sản. Điều vinh hạnh nhất hiện nay tai hải ngoại, đối với những người lính già mang mọi cấp bậc, thành phần, giai cấp xã hội.. ai mà chẳng mơ ước được Cộng Đồng người Việt Quốc Gia và đồng đội, phủ cho mình một Lá Quốc Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nắp quan tài, trước khi vĩnh viễn bước vào cõi niết bàn thênh thênh không vướng bận.
Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975, trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức xôi thịt, chuyên lợi dụng sự tự do dân chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn tìm đủ mọi cách bỏ chạy trước ra ngoại quốc. Giờ vẫn chứng nào tật nấy, vẫn sống nhờ mồ hôi nước mắt của người Việt Quốc Gia nhưng cứ lại tiếp tục pha thối cộng đồng người Việt tị nạn, tuyên truyền và bẽ cong ngòi bút, cứ đòi thay đổi lá cờ , làm lợi cho đế quốc CS đang cai trị VN, hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo vào lúc cuối đời.
Trong lúc đó, hằng vạn người lính chết hay bị thương, vì đã ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương bạc bẽo, có cơ hội chạy. Còn biết viết gì hơn, trước cảnh tượng, những người đưo.c may mắn thoát được địa ngục trần gian, đầu thai trở lại kiếp người. Nay hầu hết, mà trong số này có rất nhiều đấng HO, một thời sống nhục nơi các hỏa lò, địa ngục của CS, cũng hồ hởi kéo nhau về quê hương đã đổi mới. Thực chất, phần lớn chỉ để trả thù dân tộc , vinh qui bái tổ hay tệ nhất như Nguyễn Cao Kỳ, công khai đầu hàng VC, bêu xấu danh dự của người lính cũ, mà đượng sự có lúc nhờ đó, mới được vinh thân phì gia, sung sướng một đời.
Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn Nghĩa.. há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao ? Nhưng họ là thanh niên thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng, hơn sinh mạng phù vân một đời.
Vì vậy biết ở lại sẽ bị giặc đày đọa lăng nhục tới chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh. Cuối cùng, kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh , được tất cả mọi người từ dân tới lính, thương mến trân trọng.
Trong khi nguyên thủ quốc gia bị cưởng bức từ chức, nhiều đại bàng tối cao tại Sài Gòn tìm đủ mọi cách bỏ chạy để giữ mạng. Còn TT Dương Văn Minh thì chuẩn bị đầu hàng giặc nhưng quanh thủ đô và khắp bốn phương tám hướng, tất cả những đơn vị còn lại của VNCH, vẫn hiên ngang chiến đấu trong dơn độc. Nên không ngạc nhiên khi được đọc được lời phê bình đầy trang trọng, của Sử gia người Anh, Sir Edward S Creasy, qua danh phẩm Fifteen Decisive Battles of The World , cho biết tầm quan trọng của một cuộc chiến, không phải chỉ căn cứ vào số người chết, tù binh và chiến lợi phẩm. Nó được tính bằng thành quả ngày hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại.
Vậy ta thử hỏi sau ba mươi hai năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 - 30/4/2007) kẻ chiến thắng là CS đã làm được những gì, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN ?. Trong thời gian đó, đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không ? cứ nhìn kết quả mà không cần phải đơi câu trả lời.
Thật sự cho tới bây giờ, đất nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại đa số nghèo đói lạc hậu. Xã hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức suy đồi và oán thù chất ngất vì hố phân chia mọi thành phần trong nước, càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà so sánh. Trong lúc bọn cán bộ viên chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều cò mồi, bọn tư bản đỏ trắng tại VN càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng tạ, thì người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động, gần như kiếm ăn từng bửa. Như vậy bảy mươi lăm năm qua, nói là đi làm cách mạng để giải phóng nước nhà và người dân bị ngoại xâm kềm kẹp. Thế nhưng ba mươi hai năm hòa bình, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại bang thao túng, không phải chỉ có Nga-Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật, Âu Châu, Nam Hàn, Đài Loan-Singapore.. Còn người dân thì cuộc sống còn thua cả thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH.
Hơn ba mươi hai năm đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt gian biển lận thế nào, thì người trong nước cũng như ở hải ngoại, ai nấy đều hiểu tất cả tấn thảm kịch VN. Tất cả chỉ do bàn tay đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh dàn dựng và thao túng mà thôi.
Ba mươi hai năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào cũng to mồm lớn miệng nói là tự do-độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm.
Gần hai trăm năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện.. mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẩn Tàu trắng một cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người, thấy ngó cũng phải đau lòng cho vận nước, chỉ vì một gã Hồ Chí Minh trôi sông lạc chợ, đã làm cho non sông gấm vóc phải tan hoang, không biết đến bao giờ mới được quang phục.
Ba mươi hai năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, còn nước thì nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cả nước, đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu mai sau.
Không ai muốn thấy cảnh máu đổ xương tan, xảy ra trên quê hương mình. Nhưng người Việt quốc gia dù ở đâu và thuộc về thế hệ nào chăng nữa, đều đau lòng trước cái tên thân thương của thành phố Sài Gòn nay bỗng dưng phải mang tên Hồ Chí Minh phản tặc, một kẽ dâm hung cực ác, đứng đầu lịch sử.
Cũng không thể đứng nhìn đồng bào cả nước, nhất là phu nữ đã phải bán trôn khắp thế giới để nuôi miệng, bán mạng để sống. Cũng không thể bắt người Việt hải ngoại cứ đổ võ cho kẻ ăn ốc là bọn cọng sản và đám việt gian, việt kiều tay sai năm vùng, bằng cách mỗi lần có thiên tai hoạn nạn, thì lại cứ nhân danh này này nọ nọ, bắt đồng bào gửi tiền bạc về nước, để bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ vểnh râu làm giàu trên xương máu mồ hôi nước mắt của đồng bào tị nạn.
Cũng không thể để cho lá cờ máu và những tên quốc tặc, hiện diện tuyên truyền, trong nhưng nơi chốn, có người Việt tị nạn sinh sống, mà điển hình là vụ tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ Tặc tại Tiểu Sài Gòn, vào dịp Tết Kỷ Dậu 1999. Sau rốt cũng không cho VC tiếp tục lộng hành, toa rập với đám tư bản bất lương Tây phương, Nam Hàn, Nhật Bản, Tàu Trắng và tàn độc nhất là Trung Cộng, lũng đoạn kinh tế, phá nát kỷ cương và chia xén lãnh thổ VN
Bảy mươi lăm năm qua, người Việt đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cọng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi hai năm nay, kể cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ bọn cò mồi không tim óc dù đã có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ còn một cách duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của đảng cọng sản, để đòi lại những gì mà chúng ta đã mất, trong đó quan trọng nhất là quyền sống của kiếp người.
Chừng nào CSVN còn nắm giữ quyền hành và súng đạn trong tay, ngày đó đừng hòng chúng san sẽ hay nhượng bộ bất cứ ai, nhất là giai đoạn đảng đang sống sướng trên núi bạc rừng vàng, lại được cả Tàu và Mỹ hợp tác chia phần, nên chỉ cần đảng làm giàu mà thôi , còn nhân quyên, tự do dân chủ.. coi như là cỏ rác.
Suốt tháng nay, từ VN cho tới hải ngoại, bất cứ nơi chốn nào có người Việt sinh sống, cũng đều sôi sục phong trào đã đảo VC bán nước cho Tàu , đồng thời cũng dấy lên sự chống đối quyết liệt Trung Cộng cướp chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, nay được giặc công khai đổi thành một đơn vị hành chánh mang tên Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam.
Sự kiện lịch sử trên đã làm cho bọn chóp bu Bắc Bộ Phủ kinh hoàng, trước những cuộc biểu tình của Thanh niên, Sinh viên, Học sinh và Đồng bào tại Hà Nội , Sài Gòn. Đảng một mặt ra lệnh cho công an đàn áp nhưng vẫn không quên lợi dụng thời cơ kêu gọi người Việt trong và ngoài nước phải đứng dưới ngọn cờ máu của đảng để được yêu nước chống Tàu.
Tại Hải Ngoại, bọn thời cơ cũng hùa gió bẻ măng, kêu gọi người Việt Tị Nạn phải đứng chung với VC dưới ngọn cờ máu, để chống Tàu. Câu chuyện lạ lùng trên làm cho mọi người sực nhớ lại giai đoạn lịch sử năm 1046, khi Hồ Chí Minh một mặt cho Pháp đổ quân vào đất Bắc, để có cớ kêu gọi toàn dân đứng chung dưới lá cờ búa liềm chống Pháp .Trò bịp bợm lần nữa lại tái diễn qua lời kêu gọi đứng chung dưới cờ máu của đảng để chống Tàu đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa do chính Hồ Chí Minh ký nhượng cho giặc năm 1958.
Tới nay mà vẫn còn những loại sâu bọ như vậy, hèn chi đất nước chúng ta cứ tiếp tục bị giặc Tàu lần hồi thôn tính bởi lòng dân cả nước, còn được mấy ai ngu chịu làm bia đở đạn Tàu, để VC cứ lại tiếp tục bán nước ?


Xóm Cồn Cuối

"Màu đen trong Nhà Trắng"

Trong những ngày tới, đừng mở bất kỳ thư với tập tin đính kèm được gọi là:
"Màu đen trong Nhà Trắng", bất kể của người gửi bạn ....

Nó là một virus mở ra một ngọn đuốc Olympic làm bỏng toàn bộ đĩa cứng C của máy tính của bạn.
Vi rút này đến từ một người những người bạn đã có trong danh sách của bạn
Đó là lý do tại sao bạn nên gửi thông điệp này đến tất cả các bạn của bạn.

Bạn nhận được email này 25 lần vẫn hơn là nhận được vi rút và mở.. Nếu bạn nhận một tin nhắn được gọi là: màu đen trong căn nhà trắng, thậm chí đã gửi bởi một người bạn, không mở và tắt máy tính của bạn ngay lập tức.

Đây là virus tồi tệ nhất do CNN công bố. Một virus mới đã được phát hiện gần đây nó đã được phân loại bởi Microsoft như là virus phá hoại nhất bao giờ hết. Virus này được phát hiện ra chiều hôm qua của McAfee. Và không có sửa chữa nhưng vẫn cho loại virus. virus này chỉ đơn giản là tiêu huỷ đĩa cứng.

Mary Thuy Tran

In the coming days, DO NOT open any message with an attachment called:
Black in the White House, regardless of who sent you .. ..

It is a virus that opens an Olympic torch that burns the whole hard disk C of your computer.
This virus comes from a known person who you had in your list
Directions. .
That's why you should send this message to all your Contacts.

It is better to receive this email 25 times, than to receive the virus and Open .. If you receive a message called: black in the white house, even Sent by a friend, do not open and shut down your machine immediately.

It is the worst virus announced by CNN . A new virus has been discovered recently it has been classified by Microsoft as the virus most destructive ever. This virus was discovered yesterday afternoon by McAfee. And there is no repair yet for this kind of virus. This virus simply destroys the Zero Sector of the hard disk.

Hoà Hợp Hoà Giải Với Ai ?

Hoà Hợp Hoà Giải Với Ai ?.

35 năm, một quãng thời gian dài bằng nửa quãng đời người, những vết đau thương của ngày 30 tháng tư đã nhạt đi, những vẫn bị khơi ra nhức nhối vì những lời giảo hoạt để gọi là hoà hợp hoà giải của những người CS biến thái. 35 năm, đối với những người bỏ quê hương, bỏ gia đình quyến thuộc, liều chết xuống con tàu mỏng manh để vượt biển tìm tự do là một đoạn đường phấn đấu vất vả không ngưng nghỉ ở chốn quê người, nhưng sau chót thì mọi sự đã ổn định. 35 năm cũng kể là tạm đủ cho những kẻ phiá say men chiến thắng, để đối chiếu với thực tế mà đánh giá cái kết quả “chống Mỹ cứu nước và đánh cho Ngụy nhào” của mình ra sao. Để mà mọi người có sự yên ổn tối thiểu để đóng góp cho đất nước. Nhưng điều này đã không xẩy ra.

Những phát biểu đầy sáo ngữ và huênh hoang tự cao được nhắc đi nhắc lại trên hệ thống truyền thông đảng kiểm soát. Đại tá Hồ Khang, Phó Viện Trưởng viên lịch sử quân đội nhận định: “việc ứng xử với những người bên kia chiến tuyến bằng văn hóa khoan dung là phù hợp với đạo lý của dân tộc ta. Chúng ta không xóa mờ quá khứ, nhưng hãy khép lại quá khư, bắc một nhịp cầu qua cái hố xâu ngăn cách ấy để mọi người gần lại với nhau hơn.” Người ta đã nghe giải thích khoan dung tương tự qua lời các cán bộ quản giáo trong trại tập trung cải tạo rằng “chính sách khoan hồng của đảng đã không những cho các anh cuộc sống mà còn cho lẽ sống”. Nghĩa là không giết, nhưng phải lạo động khổ sai không xét xử, không biết bao giờ về.. Ông Võ văn Sung, cựu Đại Sứ VN tại Pháp nói: “chiến thắng năm 75 là thắng lợi của toàn dân tộc. Nếu có một người VN thất bại thì đó là Nguyễn văn Thiệu. Việc hàn gắn chiến tranh, việc xây dựng đất nước cần sự đóng góp của tất cả các con dân Việt.” Lời ngoại giao cửa miệng này không hiểu nói ra bao giờ, với ai, nhưng chắc chắn là không loan đi rộng rãi vào 30 tháng 4/1975. Còn như lời Võ văn Kiệt “Sau 30 năm qua, cả đôi bên đều nhận thấy, khi không còn sự can thiệp từ bên ngoài nữa, chúng ta có thể trở về bên nhau, cùng nhau xây dựng.

Và VN sẽ giàu mạnh nếu tất cả người VN đều ở trong một cộng đồng hòa hợp” viết ra như thế thì biết thế, mặc dầu không biết in trên báo nào trong nước. Nhưng chính viên lãnh đạo cao cấp trong bộ chính trị này là người thi hành chính sách đối xử tàn ngược với dân sống ở miền Nam từ khi Sàigòn sụp đổ, và sau đó làm thủ tướng ký sắc lệnh 31CP trấn áp những người có ý kiến khác với lãnh đạo như thế nào thì ai cũng biết.

Vì thế, những lời kèn tiếng quyển này không che được cái bản chất gian trá của lãnh đạo CS Hà nội đối với người Việt hải ngoại Tháng 10 năm 2009, một Đại Hội Việt Kiều được tổ chức quy mô ở Hà Nội với chi phí trên 10 triệu đô la, nhưng kết quả chỉ là gồm những hạng “mèo mả gà đồng”. hay những kẻ lão suy ở hải ngoại, muốn cuối đời về thăm đất nước một lần trước khi chết.

Ngày 31 tháng 3 vừa qua, Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Chủ Nhiệm Ủy Ban Nhà Nước về người VN ở nước ngoài đã chuyển một lá thư cho Dân biểu Cao Quang Ánh. Nội dung là muốn nhờ ông Ánh dùng tư cách dân biểu để cho NTS tuyên truyền, qua câu nói khoả lấp nhưng trịch thượng là “để gặp gỡ và tiếp xúc với cộng đồng VN, trong đó có cá nhận và tổ chức còn thiếu thông tin đứng đắn về VN, và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại nhà nước VN”.

Dân biểu Ánh đã khôn ngoan từ chối. Vì giả sử như có đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ, thì phái đoàn NTS chắc phải …vỡ mặt như thường lệ, vì các câu hỏi của người vào hỏi bên trong, còn bên ngoài thì bị biểu tình chống đối khiến phải né tránh đi vào bằng cổng hậu, như các phái đoàn cao cấp hơn phái đoàn của NTSơn trước đây. Còn ông Ánh thì chắc lại ôm đầu bứt tai tìm cách giải thích như là đã phải làm vì câu tuyên bố chính trị trong chuyến đi thăm VN. Nguyễn Thanh Sơn phải nhớ rằng Hoa Kỳ và Canada là xứ tự do, không có chính quyền nào mà lại dùng bạo lực trấn áp quyền tự do phát biểu của người dân.

Muốn thực sự có gặp gỡ tiếp xúc như NTS nói, thì đảng và nhà nước Hà nội hãy để yên cho người dân trong nước cũng như người hải ngoại không thuộc loại chính trị thời cơ hay lưu manh Nguyễn Cao Kỳ, phát biểu dù có khác ý với lãnh đạo. Vắn tắt, là không có cái lối gọi là viết tự do kiểu“đi trên lề phải”, và né tránh những cái gọi là nhậy cảm.

Hòa hợp hòa giải là vấn đề không đặt ra, giữa người dân với nhau như ta đã thấy qua thực tế số tiền nhiều tỉ đô la người hải ngoại gửi về giúp thân nhân bè bạn. Nhưng hoà giải không thể có với những kẻ lãnh đạo đã sai lầm và phạm tội trong quá khứ mà tiếp tục khoả lấp sai lầm và nhất là vẫn tiếp tục chủ trương tội ác phản dân hại nước.

Những chủ trương chính sách này lộ ra qua những tin tức hàng ngày trong nước. Ai lừa dân đóng tiền cho bọn Mafia của đảng và nhà nước để mua giấy xuất khẩu rồi đem bỏ họ bơ vơ vất vưởng ở trong rừng Âu châu ? Nếu đám người này không chết vì tai nạn, cướp bóc, hãm hiếp dọc đường, thì cũng tù tội vì làm nghê trồng cần sa phi pháp bên Anh quốc ?

Ai dâng đất nhượng biển cho TQ rồi bào là vấn đề nhậy cảm không được nói và mặc cho ngư dân bị trấn lột trên các vùng biển cha ông truyền lại? Ai cho dân Tầu tự do vào Việt nam làm đủ các nghề trong khi dân Việt thất nghiệp? Danh sách kể dài không thể hết.

Xin trả Hòa Hợp Hòa Giải lại cho bạ0 quyền CS.

Giao Tiên

Ai Sẽ Thắng Ai ?

Ai Sẽ Thắng Ai ?

Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.

1- Rào cản chính trị:
- Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Trung Quốc về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Trung Quốc tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọil à Nam Sa). Còn khả năng Trung Quốc và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Trung Quốc áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với CSVN, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Trung Quốc tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Trung Quốc sẽ tăng cao.
- Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía CSVN. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho CSVN chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho CSVN . Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển.
- Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ - Xinhgapo - Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”.
- Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam - Malaixia, cách Trung Quốc xa như vậy, nói là của Trung Quốc thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Trung Quốc, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho CSVN, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Trung Quốc.
2- Rào cản về quân sự
- Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc với Việt Nam, phía Trung Quốc có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa - quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam , ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Trung Quốc. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v.
- So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Trung Quốc tham gia cuộc chiến tranh này sẽ chủ yếu là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn CSVN lực lượng không quân được trang máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK/UBK”. Hải quân CSVN được trang tàu tên lửa tốc độ cao “ Molniya- 12418 ” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO- 636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Trung Quốc.
- Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải CSVN. Ngoài ra, Trung Quốc phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị tên lửa siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của Ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300 km.
- Về năng lực phòng không, Trung Quốc và Việt Nam đều được trang bị tên lửa đất đối không hiện đại “S- 300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Trung Quốc là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Trung Quốc) chủ yếu bố trí trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.
3- Rào cản về địa lý
- Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 - 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Sài Gòn, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su- 22” của không quân CSVN, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân tung thâm của đối phương.
- Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Trung Quốc kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 - 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 - 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J- 10” và “J- 8D” và cả “Su- 30MKK” và “Su- 27SK” của Không quân Trung Quốc đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân CSVN cũng ngắn hơn khoảng 50%.
- Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Trung Quốc nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân CSVN thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân CSVN. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân CSVN.
- Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su- 27SK” và “J- 10A” của Trung Quốc, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG- 21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG- 21Bis của CSVN có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào.

4- Rào cản về chiến thuật
- Máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân CSVN có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Trung Quốc chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân CSVN áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại rada trên tàu mặt nước của Trung Quốc và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Trung Quốc.
- Hải quân CSVN không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Trung Quốc áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân CSVN.
Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 - 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết./.

Phạm Viết Đào

TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ

TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ.

MỘT BÀI BÁO TRÊN MẠNG TRUNG QUỐC ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ:
“Phải giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa”
(Bài đưa lên mạng Trung Cộng 5g45p ngày 9 tháng 1 năm 2010)

Đó là kết luận ngắn gọn, rắn đanh của bài báo mang tiêu đề “Việt Nam, Vật tế cho trận chiến thu hồi Nam Sa” (越南—收复南沙之战的祭品) vừa được đưa lên nhiều trang mạng của Trung Cộng (tôi gọi là Trung Cộng để phân biệt với Trung Hoa Đài Loan, hoặc Trung Hoa Hồng Kông, hoặc với các bạn hữu Trung Hoa hải ngoại khác). Nguyên văn câu kết luận bằng Hán ngữ là “杀越寇为南沙之战祭旗” (Giết giặc Việt để làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa – Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ).
Chúng ta là dân, không thể biết được các nhà lãnh đạo hai “đảng anh em” bàn với nhau những chuyện gì, nhưng bằng bài báo này, thì có thể nói chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa, các ông anh Đại Hán đã gọi dân Việt Nam là bọn “giặc Việt” (Việt khấu), và hạ quyết tâm giết thẳng tay bọn “giặc Việt” để làm vật tế cho cuộc chiến “thu hồi” Nam Sa, thu hồi miền biển đảo mà tổ tiên họ chưa hề đặt chân đến. Theo cách viết trong bài báo mà tôi đã dịch đăng trên BVN mấy ngày trước đây, thì người Trung Quốc phải quyết tâm giết bọn “giặc Việt” “lòng lang dạ sói” không cần bàn đến việc điều đó có là đạo đức hay là vô đạo đức.
Cái quốc gia mà báo chí Việt Nam vẫn gọi là “nước lạ” này có một kiểu lập luận rất “lạ”. Tác giả bài báo dùng một từ Hán rất cổ, không còn tìm thấy trong các từ điển hiện đại thông dụng của Trung Quốc: “Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta” (phiên thuộc nghĩa là một vùng đất chư hầu, tồn tại như những châu, những quận dưới sự cai quản của mẫu quốc Trung Hoa, đoạn này nguyên văn tiếng Hán là 越南原为我国藩属 – Việt Nam nguyên vi ngã quốc phiên thuộc). Theo cách nói mập mờ của họ, thì người đọc hiểu rằng, dường như dải đất Việt Nam này, “vốn xưa” là một bộ phận thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng rồi, vì Trung Quốc kém cỏi, đã bị các đế quốc thực dân xâu xé... Theo Thỏa ước Pháp – Thanh 1885, cái phần Việt Nam “của họ” đã bị “nhượng” cho thực dân Pháp, và đến khi Trung Quốc giúp Việt Nam đánh Pháp giành lại độc lập thì họ đã “quên” không lấy lại một phần trong đó, là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tôi nhớ lại một lần vào giữa thập niên 1960, khi đến thăm Bảo tàng Quân đội ở Bắc Kinh, thấy người ta trưng ra một bản đồ, trong đó chỉ rõ những vùng đất gọi là “của” Trung Quốc khi xưa, mà điều không thể tin ở mắt mình là cả Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều bị khoanh vào trong đó. Những kẻ “chữ nghĩa đầy mình” đã cố tình giải thích hai chữ “phiên thuộc” ra như thế đấy? Thật là một trò đánh tráo khái niệm quá ư hài hước.
Đọc xong bài báo này, tôi bỗng đâm phân vân về trình độ học sử của Người Trung Quốc. Tuy không phải nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng nếu tôi cũng cho phép mình “lý luận” theo kiểu ông láng giềng phương Bắc, thì tôi sẽ lập luận thế này: Xưa kia, từ thế kỷ XXIX trước Công nguyên, từ thời Hồng Bàng, dân Bách Việt (trong đó có dân Việt Nam ngày nay) có địa giới từ Hồ Động Đình mãi tận phương Bắc xa xôi! Nhưng rồi bọn giặc Hán “lòng lang dạ sói” đã đến xâm chiếm giang sơn của các sắc dân Bách Việt, dồn dân Bách Việt xuống mãi phía Nam. Vậy thì, bây giờ dân Bách Việt cũng phải thu hồi cái giang sơn gấm vóc cũ của mình về cho đất mẹ Bách Việt chứ! Nêu lên một phản đề như thế thật ra chỉ cốt để nhắc nhở các ngài đang già mồm cổ vũ luận điệu bành trướng hãy nhớ lại câu nói của Khổng Từ trong Luận ngữ: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là “Cái mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.
Cũng như bài tôi đã dịch và đưa lên mạng tuần trước, bài này cũng không ký tên tác giả. Đó chỉ là một cách ném đá giấu tay chứ không có gì khác. Nhưng tôi vẫn dám khẳng định tác giả là hạng người “miệng có gang có thép”. Vì sao? Cái cách họ phân tích tương quan giữa các thế lực quân sự trên cục diện toàn cầu và những vấn đề địa - chính trị đều cho thấy họ có những cách nhìn của các nhà chiến lược đang cân nhắc thực lực giữa đôi bên, xem xét kỹ lưỡng dư luận quốc tế có thể giáng lên đầu mình một khi hành sự, và như con báo rình mồi, họ đón chờ cơ hội để “ra đòn” đúng lúc, song mặt khác, họ lại dùng những ngôn từ rất hạ đẳng làm cho người đọc lầm tưởng họ là dân “chợ búa”.
Nhưng thôi, tranh luận mà làm gì. Đó vẫn là cách chơi chữ thâm căn cố đế của anh bạn “ giặc Hán lòng lang dạ sói” của chúng ta. Xin các bạn đọc toàn văn bản dịch ngay sau đây. Các bạn sẽ thấy, những kẻ “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường” (Nguyễn Du) lại lên tiếng kêu la oan ức... toàn một giọng nói ngược,... làm như chính họ đã bị bọn “Việt Nam lòng lang dạ sói” vây bắt ngư dân, đã bị bọn “giặc Việt” chiếm đóng những vùng biển đảo, mà trên thực tế không hề tìm thấy một bằng chứng nào để chứng minh rằng người Hán đã từng đặt dấu chân lên đó trước người Việt. Đọc bài báo, chúng ta cũng thấy được họ tuyên bố công khai việc thuê đất dài hạn ở các tỉnh biên giới chính là nằm trong ý đồ lấn chiếm đất đai của chúng ta.
Lưu ý, người dịch giữ nguyên cách gọi các địa danh trong bài báo, là Tây Sa, Nam Sa và Nam Hải, nhưng xin hiểu Nam Sa là Trường Sa, Tây Sa là Hoàng Sa, Nam Hải là Biển Đông.

Vũ Cao Đàm
dịch

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Cờ Của Dân Tộc Việt Nam

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Cờ Của Dân Tộc Việt Nam.

Cờ vàng ba sọc đỏ không phải chỉ là cờ của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng
Hòa, mà đã có từ thời vua Thành Thái từ năm 1890 kéo dài 30 năm cho
đến năm 1920 (1*). Đến thời Bảo Đại khi ông Trần Trọng Kim làm thủ
tướng, cờ truyền thống nền vàng ba sọc đỏ đã được chính thức công nhận
là quốc kỳ bằng sắc lệnh số 3 ngày 2/6/1948, do Thiếu Tướng Nguyễn Văn
Xuân ký với tư cách thủ tướng chánh phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam lúc
ấy (2*).

Cờ Việt nền vàng bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt có từ thời Hai
Bà Trưng, được cải tiến nhiều lần qua thời gian và cuối cùng có hình
dạng nền vàng ba sọc đỏ như hiện nay. Để biểu lộ lòng yêu dân tộc và
trung thành với truyền thống dân tộc Việt thì cờ của dân tộc Việt Nam
phải có nền vàng.

Như vậy, cờ vàng ba sọc đỏ – đã có từ 118 năm trước (tính đến năm nay,
2008) – không phải chỉ là cờ của một chế độ hay một thể chế chính trị
nào, mà là quốc kỳ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Khi Việt Nam bị
chia đôi thành hai miền Nam Bắc, các Chính phủ Miền Nam dưới thời Đệ
Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, do trung thành với truyền thống dân tộc, đã
dùng lá cờ vàng của dân tộc làm quốc kỳ. Dưới ngọn cờ biểu tượng cho
chính nghĩa Tự Do này, tập thể dân quân miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã
chiến đấu để tự vệ, chống lại cộng sản xâm lược từ miền Bắc vốn được
Liên Sô và Trung Quốc đắc lực trợ giúp vũ khí và nhân sự.

Việt Sử là một lịch sử tranh đấu hào hùng, dai dẳng và kiên trì cho
nền tự do, độc lập của toàn dân tộc khi bị giặc Hán cai trị hàng ngàn
năm, bị giặc Tây đô hộ gần 100 năm, và hiện nay đang bị giặc nội xâm
cộng sản toàn trị suốt mấy chục năm qua. Qua các cuộc tranh đấu cứu
nước, cờ của dân tộc, dù thay đổi tùy thời đại, luôn luôn có nền màu
vàng. Người Việt hải ngoại và các chiến sĩ tự do đang đấu tranh ở quốc
nội coi Cờ Vàng là biểu tượng cho cuộc tranh đấu dành lại tự do, dân
chủ và độc lập cho dân tộc Việt Nam. Vì thế, cờ vàng ba sọc đỏ minh
nhiên là cờ chung của cả dân tộc Việt Nam và của những người Việt Nam
đang theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho tự do dân chủ.

Năm 1975, cộng sản miền Bắc đã cưỡng chiếm được Miền Nam bằng bạo lực
tàn ác và những thủ đoạn chính trị gian xảo, nước Việt Nam được thống
nhất dưới chế độ cộng sản độc tài hà khắc. Đảng cộng sản đã áp đặt
người dân hai miền phải dùng lá cờ nền đỏ sao vàng. Nền đỏ là nền cờ
của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như của Đảng Cộng Sản Quốc Tế (với
hình búa liềm). Nó hoàn toàn không có tính dân tộc hay tình tự dân
tộc. Người Việt gọi là "cờ máu" rất đúng vì cờ này được xây dựng trên
máu xương của hàng triệu người dân vô tội đã chết cách hết sức oan
uổng. Thật vậy, dưới lá cờ này, người dân Việt Nam đã phải hy sinh quá
nhiều xương máu một cách thê thảm, phí phạm và vô ích. Những lá cờ nền
đỏ của các nước cộng sản đều có nhiều nét tương tự nhau: cờ Liên Sô có
một sao đỏ và hình búa liềm, cờ Trung Cộng có 1 sao lớn 4 sao nhỏ màu
vàng. Lá cờ CSVN có một sao lớn màu vàng y hệt như lá cờ của tỉnh Phúc
Châu Trung Quốc. Nó chỉ có thể là cờ riêng của một chế độ CSVN, một
chế độ độc tài tàn ác, đàn áp bóc lột nhân dân, tước đoạt mọi quyền
của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo và quyền căn bản nhất là
quyền tự vệ trước sự đàn áp bóc lột của chế độ. Đó quả là một chế độ
hoàn toàn ngược lại với ý chí và quyền lợi của dân chúng. Vì thế, cờ
đỏ sao vàng của CSVN hoàn toàn không phải là cờ của dân tộc, trái lại,
nó là lá cờ thù nghịch với dân tộc Việt Nam, thù nghịch với các tôn
giáo, các tín đồ tôn giáo.

Không sống nổi dưới chế độ phi nhân này, trên 3 triệu người Việt đã
phải vượt biên vượt biển tìm tự do, mang theo lá cờ vàng ba sọc đỏ
thân yêu bắt nguồn từ truyền thống dân tộc. Kể từ đó, lá cờ này đã trở
thành biểu tượng của Tự Do cho toàn thể khối người Việt tự do trên
khắp thế giới.

Tóm lại, qua những trình bày trên, ta thấy cờ vàng là cờ truyền thống
của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã chọn màu cờ
vàng là cờ của quốc gia dân tộc. Trung thành với truyền thống đó, cờ
vàng ba sọc đỏ chính là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, chứ
không phải của riêng một thể chế nào.

Tôi rất lấy làm lạ khi thấy nhiều người từ trong nước ra hải ngoại –
kể cả những tu sĩ, những chức sắc cao cấp nhất, trí thức nhất trong
các tôn giáo – lại tỏ thái độ tránh né lá cờ Tự Do, lá cờ truyền thống
của dân tộc đã tồn tại từ 118 năm nay. Tại sao? Tại sao khi đến với
đồng bào hải ngoại thân thương ruột thịt, họ lại tỏ ra e ngại, tránh
né, thậm chí xúc phạm đến biểu tượng mà người Việt hải ngoại hết sức
trân quý, yêu thương, cũng là biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ, một nhu
cầu tối yếu mà chính người trong nước đang khao khát nhưng chưa có?
Phải chăng họ e sợ khi trở về nước sẽ bị công an trong nước bắt bẻ,
hành tội một cách phi lý? Là người trí thức, có khả năng ăn nói mạnh
mẽ và lý luận cao hơn người thường, lẽ nào họ lại không biết cách giải
thích phân minh cho công an, cán bộ cộng sản hiểu rằng: lá cờ vàng ba
sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà còn là cờ
truyền thống của dân tộc, của lý tưởng tự do dân chủ của người Việt?
Nếu CSVN đã công nhận người Việt hải ngoại là "khúc ruột ngàn dặm" của
họ thì mặc nhiên họ đã công nhận biểu tượng hay lá cờ của "khúc ruột
ngàn dặm" ấy rồi!

Các tu sĩ tôn giáo chắc chắn phải biết lá cờ nào là thù nghịch với tôn
giáo, với niềm tin tôn giáo của họ. Họ phải biết lá cờ nào đã từng chủ
trương tiêu diệt họ, hạn chế tự do tôn giáo của họ, và cờ nào là cờ
đang tranh đấu cho chính họ để họ được tự do hành đạo chứ! Chẳng lẽ họ
không phân biệt được cờ nào là bạn, cờ nào là thù?

Biết bao thường dân nhỏ bé, thậm chí là "liễu yếu đào tơ", tiếng nói
ít sức mạnh và ít ảnh hưởng hơn họ rất nhiều, thế mà vẫn dám đứng
thẳng lưng trước bạo quyền… Gương của những Lê thị Công Nhân, Phạm
Thanh Nghiên, Nguyễn Tiến Nam… là những người mới chỉ khoảng 30 tuổi
đầu, đã dám đối đáp với bạo quyền với tất cả khí phách của mình, gương
đó đang sờ sờ trước mắt họ! Lẽ nào đường đường là những "đấng", những
"ngài", những "bậc" với tiếng nói "có gang có thép" – lại chấp nhận
khom lưng, run sợ bạo quyền tới mức độ không dám hành xử theo lẽ phải,
theo lương tâm mình? Lẽ nào lại sẵn sàng làm những điều trái với lương
tâm, trái với chủ trương của đạo giáo mình, trái với những lời thề
nguyền của mình trước những đấng thiêng liêng (3*) …?

"Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng
bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết
rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc,
chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân và nô lệ ngoại bang. Bên
ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của
phía người Việt Nam chống lại chế độ cộng sản. Không biểu tượng nào
khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ
lòng tôn trọng Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi
ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào
việc giải phóng đất nước khỏi ách độc tài Cộng Sản" (4*).

Nguyễn Chính Kết.