lørdag 21. november 2009

Hiện Tượng (Thơ)

Cộng đồng hải ngoại chúng ta
Xảy ra hiện tượng chánh, tà khó phân
Gây quỹ yểm trợ dân oan
Đến nhà dân chủ đấu tranh nhân quyền

Miền Trung bão lụt triền miên
Nhóm nầy tổ chức quyên tiền vừa xong
Nhóm kia tỏ ra có lòng
Làm như yêu nước, mặn nồng với dân

Lên đài, đăng báo rần rần
Ngày hô chống Cộng, đêm nâng kẻ thù !
Quyết tâm vạch khúc mây mù
Đừng cho những bọn thời cơ lộng hành

Đồng tiền yểm trợ phân minh
Ai người yêu nước ai giành tự do ?
Ta nên cân nhắc đắn đo
Phá tan hiện tượng mưu đồ lừa dân .

Trần Bửu Hạnh.

Sự Thật Về Xã Hội-Con Người Của CSVN

Khi CSVN cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ, nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng, có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương. Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh "nén bạc đâm toạc tờ giấy." Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi, chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên, ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.

Chủ thuyết Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai cấp vô sản, lại đặc biệt bóc lột đám dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam vô cùng, vô tận. Một số người về Việt Nam cho biết: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận, nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; "núm ruột ngàn dặm" gì mà hễ đi thăm nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt chặt tiền gấp đôi... Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế, mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà thôi!

Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:
Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người bạn Ðồng minh Mỹ bỏ rơi, trong khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa, tay chân nắm quyền. Người CSVN ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản hậu, bởi qua cuộc đổi đời, lúc người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào đủ quyền năng để ra tay trừng phạt (bẻ cổ...) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối cùng.

Hãy cùng nhau bắt tay tìm lối đấu tranh cụ thể, đạp đỗ chế độ phi nhân hiện nay, tập đoàn bán nước hại dân, đó mới là hợp lý với vấn nạn đất nước, ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho 85 triệu đồng bào còn "điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm." Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới thật sự tự do, hạnh phúc có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.

Niềm Tin.

fredag 20. november 2009

Giữa Cơn Bão Số 9 & Ðảng CSVN

Giữa Cơn Bão Số 9 & Ðảng CSVN.

Thật vậy, bao nhiêu năm nay, ngư dân VN đánh bắt cá ngay trên vùng biển VN, thường xuyên đều bị Trung Cộng đánh phá, bắn giết, bắt giam để đòi tiền chuộc, cướp phá ngư cụ, và đêm hôm dùng tầu lớn đâm chìm tầu cá của ngư dân VN. Rồi mới đây, trong trận bão số 9, 16 tầu đánh cá ở Quảng Ngãi với hơn 200 ngư dân VN, phải liều chết tiến vào quần đảo Hoàng Sa để tránh bão, dù rằng đã bị Trung Cộng xả súng bắn đuổi. Ba ngày sau khi bão tan, ngư dân VN đã bị lính Trung Cộng đánh đập, tầu bè đánh cá bị tàn phá, tài sản và ngư cụ của người dân bị cướp bóc….Trước những sự kiện ngang ngược hiển nhiên như vậy của Trung Cộng đối với ngư dân VN, CSVN đã không hó hé lên tiếng. Hai tuần sau mới để cho phó chủ tịch Hội nghề cá VN viết thư phản đối Trung Cộng, và một tháng sau, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao CSVN mới thông báo gửi công hàm phản đối Trung Cộng mà nội dung cũng không công bố. Trong khi đó, chỉ một du sinh VN bị cảnh sát Hoa Kỳ đánh mà chưa rõ cớ sự phải trái ra sao, từ Tổng lãnh sự CSVN tại Hoa Kỳ tới Bộ Ngoại Giao CSVN đều ồn ào lên tiếng phản đối ngay lập tức. Hai thái độ ứng xử của CSVN đã hoàn toàn trái ngược! đài Á Châu Tự Do ngày 22/10/09 đã cho biết khi lâm nạn ngoài biển khơi, thì ngư dân kể rằng “tầu cứu hộ, cứu nạn ra đứng chờ mình đi kiếm: kiếm rồi hết bao nhiêu dầu mỡ thì về họ cho”. Đó là cách CSVN cứu ngư dân Việt khi họ lâm nạn trên biển cả. Thế nhưng, khi tầu đánh cá của Trung Cộng gặp nạn, thì báo Quân Đội Nhân Dân của CSVN ngày 20/10/09 đã tường thuật rằng: “Sau khi Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đề nghị CSVN tham gia tìm kiếm hai tầu đánh cá của Trung Cộng ở vùng biển gần đảo Bạch Long Vĩ, Bộ Tổng Tham Mưu thuộc Bộ Quốc Phòng CSVN đã điều động 4 tầu hải quân lên đường tìm kiếm hai con tầu này”. Trong vụ này, lính VC đã vượt sóng to gió lớn cấp 8 cứu 12 ngư phủ Tầu. Người Việt nam nghe tin này không khỏi xấu hổ cho thái độ tay sai của CSCS đối với dân thượng quốc, và ngậm ngùi cho ngư dân nước mình phải tự cứu lấy nhau để được bộ đội bồi hoàn dầu nhớ. Đúng là những lính này đã thi hành triệt để lời thề “trung với đảng” mà Hồ chí Minh đề ra.

Cách đối xử dã man vô nhân đạo của lực lượng vũ trang Trung Cộng đối với hơn 200 ngư dân VN trong trận bão số 9 vừa qua cả thế giới đã rõ, nhưng CSVN đã coi như không biết gì. Tên Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục tham dự hội chợ Tứ Xuyên, hệ thống báo chí CSVN vẫn rầm rộ ca tụng đại lễ quốc khánh 1/10 của Trung Cộng. CSVN từ đảng, quốc hội, nhà nước và các đoàn thể ngoại vi lên tiếng gửi “điện mừng”. Và phát biểu: “chúng tôi rất vui mừng trước sự phát triển ngày càng sâu sắc và những thành quả hợp tác rất quan trọng của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai đảng, hai nhà nước VN-TQ theo phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt….”

Người có chút liêm sỉ ngậm ngùi tự hỏi không hiểu đến bao giờ thì những người Cộng Sản mới bỏ được cái tinh thần vong bản, nô lệ đã được truyền lại từ thời Hồ chí Minh coi Mác, Lênin với Mao là vĩ đại, Liên sô Trung Cộng là thành trì của thế giới đại đồng vô sản, mà bọn CSVN tôn thờ chủ nghĩa Cộng Sản là ánh sáng mặt trời chân lý, thật là xấu hỗ cho cái bọn bán nước hại dân này.

Phan Đông Quân.

Tôi Sẽ Chiến Ðấu Tới Cùng !

* "Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam."

* "Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi."
* "Chính Đấng Tạo Hóa –Thượng Đế– đã sinh ra tôi…"
* "Tôi đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền và tự do cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, đối với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng Tạo Hóa đã sinh ra tôi."

Cho đến hôm nay, Lê Thị Công-Nhân đã trở thành một tên tuổi lớn. Không phải lớn vì cô là một luật sư trẻ tuổi, tài ba. Cũng không phải lớn vì cô đã được cả thế giới biết đến. Theo quan điểm riêng của người viết những dòng này thì chính cái nhân cách phi thường ẩn giấu đàng sau vóc dáng mảnh mai, yếu đuối một trái tim nhân hậu, một thái độ can đảm, một ý chí kiên cường, bất khuất của một con người có niềm tin son sắt nơi Thượng Đế, Đấng tạo dựng muôn loài vạn vật, đã khiến cho tên tuổi của cô trở nên vĩ đại, lẫy lừng và sáng chói.

Tên Công-Nhân của được ghép lại bởi hai từ: Công-Bằng và Nhân-Ái.

Đây không phải là điều bịa đặt hay suy diễn chủ quan của người viết.. Mà đã được nói ra từ cửa miệng của người đã cưu mang Lê Thị Công-Nhân, đã sinh ra cô và đã có công nuôi dạy cô nên một mẫu người đáng trọng đáng nể như ngày nay. Được biết, khi có kẻ tò mò muốn rõ vì sao một thiếu nữ trí thức có nhân dáng thanh cao, trong suốt và một vẻ đẹp hồn nhiên như thiên thần lại có tên là Công-Nhân, bà Trần Thị Lệ cho biết: vì sống dưới một xã hội lưu manh, gian dối, bất công và độc ác bà kỳ vọng sau này con gái bà ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình nên đã rút gọn hai từ Công-Bằng & Nhân-Ái để đặt tên cho cô là "Công-Nhân".

Từ đấy cái tên định mệnh này đã chi phối trọn vẹn cuộc đời cô bé..
Ra đời năm 1979 tại Tiền Giang, phần đất của miền nam nước Việt, năm nay cô bé vừa tròn 28 tuổi. Như vậy là trong ngót ba thập niên đầu đời, Lê Thị Công Nhân đã sống và lớn lên trong lòng chế độ cộng sản độc tài, độc đảng, phi nhân và tàn ác. Nhưng giống như bông sen, cô bé tuy sống "gần bùn" nhơ mà chẳng hề bị tiêm nhiễm bởi cáí "hôi tanh" của "mùi bùn". Được như thế chính là nhờ nhân cách và công lao dưỡng dục của một bà mẹ đạo đức từng thừa hưởng môi trường tự do, dân chủ, phóng khoáng trong suốt nửa đời trước, khi may mắn sống và được giáo dục dưới chế độ miền nam trước tháng tư năm 1975.

Lớn lên, Lê Thị Công Nhân ra Hànội ghi danh vào đại học. Ước vọng của cô là trở thành một luật sư giỏi để mai ngày mang sở học và tâm huyết của mình bênh đỡ giới công nhân, lao động cùng khổ. Cô tốt nghiệp Cử nhân Luật khóa K22 (1997-2001) và sau hai năm chuyên ngành cô trở thành luật sư thực thụ, hành nghề tại Văn Phòng luật sư Thiên Ân (Ơn Trời) của luật sư Nguyễn Văn Đài. Từ đấy, lý tưởng tranh đấu cho một xã hội công bằng và nhân ái đã trở thành niềm đam mê âm thầm nhưng mãnh liệt trong trái tim nhân hậu của người nữ trí thức trẻ.

Từ những năm 2004-2005, sự xuất hiện bất ngờ như ánh sao băng giữa trời tăm tối của người nữ luật sư trẻ họ Lê trong cao trào đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, nhân phẩm ở quốc nội đã cuốn hút sự chú ý của mọi người, mọi giới, trong cũng như ngoài nước. Qua những bài viết sắc bén ký tên Lê Thị Công-Nhân đọc được trên NET kèm theo tấm hình một "cô bé" trang phục áo dài trắng trinh nguyên với khuôn mặt trẻ thơ, đôi mắt trong suốt cùng với nội dung những lời lẽ mềm mỏng nhưng quyết liệt trong những cuộc phỏng vấn của các đài phát thanh RFA, RFI, VOA, BBC, dư luận người Việt trong các cộng đồng tị nạn khắp thế giới bắt đầu xôn xao bàn tán về cô.

Trong niềm phấn khởi trước hiện tượng nở rộ của cao trào đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam ở quốc nội trong những năm đầu thiên niên thứ ba, bà con ở hải ngoại còn cảm thấy phấn khởi trước dấu hiệu cho thấy giới trí thức trẻ trong nước đã công khai nhập cuộc mà sự có mặt của luật sư Lê Thị Công-Nhân là một điển hình rực rỡ.

Hào quang và hấp lực của người thiếu nữ trí thức họ Lê đối với quần chúng –kể cả những nhân sĩ, trí thức, những người đang trực tiếp gắn bó với cao trào đấu tranh lâu nay– không chỉ giới hạn nơi nội dung những bài cô viết, những ngôn từ cô phát biểu hay hành vi, thái độ kiêu dũng của cô trước bạo lực… mà nó còn toát ra từ nhân dáng yếu đuối, nhỏ nhoi bừng lên nét đẹp hồn nhiên, thánh thiện trẻ thơ như thiên thần nơi cô gái được sinh ra ở tỉnh Tiền Giang, phần đất của miền Nam nước Việt 28 năm về trước.

Khi đọc những lời tuyên bố của nữ luật sư Lê Thị Công Nhân ghi chép lại thành văn, được gửi lên mạng lưới điện toán toàn cầu, hoặc xuất hiện trên mặt báo, cũng như nhiều người, tôi không nén được lòng xúc động. Nhưng khi được trực tiếp lắng nghe tiếng nói của cô qua cuốn băng thâu lại, niềm xúc cảm trong tôi tăng lên gấp trăm lần. Cung cách phát âm ngập ngừng, chậm rãi của cô cho người nghe bắt gặp trong đó tất cả cái e ấp thường tình của người con gái Việt Nam sống trong khuôn khổ lễ giáo từ một gia đình mực thước đạo hạnh, lần đầu phải lên tiếng nói về những điều trọng đại vượt quá sức mình.

Có lẽ lúc nói cô không khóc, nhưng qua âm sắc khi xúc động, lúc nghẹn ngào ẩn giấu đằng sau ngôn từ, người nghe vẫn thấy, vẫn cảm được từng giọt lệ như đang ứa ra từ đôi mắt nai ngây thơ, vô tội của cô. Nó mang hình tượng những giọt sương đêm mong manh đọng trên những cánh hoa hồng giữa cơn giông bão.

Trần Phong Ðại Vũ

Kiếp Nhược: Nhục Và Hèn

Vào thượng tuần tháng 11 vừa qua, Cộng Hòa Liên Bang Đức cùng các quốc gia Đông Âu thuộc phe Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây và nhiều nước thuộc thế giới tự do khác đã tưng bừng kỷ niệm tròn 20 năm ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, tạo ra hiệu ứng DOMINO đã kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống XHCN, giải phóng hoàn toàn nhân dân các nước Cộng Hòa thuộc Liên Bang Xô Viết Cũ và nhân dân cả khối Đông Âu khỏi ách cộng sản do Lê Nin, Stalin và các lãnh tụ của quốc tế cộng sản áp đặt lên trên các dân tộc bị trị này kể từ sau cuộc cách mạng tháng 10-1917, và nền độc tài cộng sản trị được áp đặt lên thêm nhiều hơn các dân tộc Đông Âu kể từ sau Thế Chiến Thứ hai kết thúc năm 1945.

Trong lịch sử của nhân loại, chưa bao giờ nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô cũ cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao đến vậy: Sau hơn ba thế hệ con người sống trong sự kìm kẹp vô hình của đế quốc ma quái - evil empire – của Liên Xô. Sau gần 3 phần 4 thế kỷ đối với nhân dân các nước Cộng Hòa thuộc Liên Bang Xô Viết và sau non nữa thế kỷ đối với các quốc gia khác thuộc Đông Âu con người ta sống trong một bầu không khí ngột ngạt, đè nén bởi nền chuyên chế được áp đặt lên trên mọi sinh hoạt của đời sống họ, kể cả trên tư tưởng của họ.

Đối với nhân loại trên toàn cầu, sự sụp đổ của chế độ cộng sản là một hệ quả tất yếu của học thuyết Engel, Karl Mark và Lenin về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, bởi toàn bộ nền tảng của các học thuyết này được xây dựng hoàn toàn bằng những sự bao trái ngược với quy luật phát triển tự nhiên của xã hội và của con người: Hai bản năng gốc của con người là sở hữu và tiêu diệt, nhưng Engel, Karl Mark và Lê Nin đã phủ nhận thực tế này bằng những lý luận khập khiểng về việc xóa bỏ chế độ tư hữu nhằm xây dựng một chế độ xã hội loài người hoàn hảo giống như xã hội loài ong, loài kiến, thật hết sức hoang đường!

Khác với người dân Đông Đức và các dân tộc Đông Âu, sự kiện sụp đổ của bức tường bá Linh kéo theo sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và các nước cộng sản ở Đông Âu được người Việt nam trong nước đón nhận với ít nhất là hai chiều suy nghĩ khác nhau: Đối với người dân, từ trong Nam, ngoài Bắc, mọi người đều trông chờ một điều kỳ diệu tương tự sớm xãy ra với nước Việt nam, nhưng tiếc thay không có điều kỳ diệu này xãy ra cho người Việt, bởi “TỰ DO KHÔNG PHẢI TỰ NHIÊN MÀ CÓ”.
Đối với tập đoàn đảng cộng sản Việt nam, lúc bấy giờ họ căng thẳng, họ lo sợ cho sự sụp đổ của thiên đường XHCN như một quy luật tất yếu đã diễn ra vào thời điểm đó tại Đông Âu, hình ảnh của Erich Honecker của Đông Đức một thời phải trốn sang Liên Xô xin tỵ nạn tự do và công lý đã khiến cả bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt nam vô cùng khiếp sợ, hình ảnh Nicolae Ceausescu, lãnh tụ một thời của nhân dân Romania bị đưa ra trước tòa án công lý và bị kết án tử hình, bởi những tội ác vô cùng dã man tàn bạo đối với dân tộc Romania trong suốt những năm cầm quyền càng khiến cho đám lãnh tụ của cộng sản Việt nam khiếp sợ.

Dẫu có một thời lầm lạc trong cái thiên đường mù XHCN đó, nhưng sau thời điểm 09 tháng 11 năm 1989 đa phần người Việt trong nước, đặc biệt là giới trí thức, và ngay cả những tên lãnh tụ của cộng sản Việt nam cũng đã nhận thức được rằng không thể có một xã hội XHCN hay CSCN theo học thuyết của Karl Mark và Lenin, nơi mà con người ta “làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu”, ngay cả những người nông dân chân lấm tay bùn cũng không thể tin rằng có một xã hội XHCN, nơi mà con người không cần bất cứ một sự hưởng thụ nào, ngoài niềm vui lớn lao nhất của họ là được lao động, được làm nô lệ, như đàn ong thợ, kiến thợ, để cho riêng tập đoàn ong kiến đực và ong kiến chúa hưởng thụ, bởi con ong cái kiến chỉ sống chủ yếu bằng bản năng, trong khi con người chúng ta lại sống thiên về lý trí. Kiên định theo con đường XHCN là các lãnh tụ của đảng cộng sản muốn biến con người Việt chúng ta thành loài ong, loài kiến, nghĩa là không được sống bằng lý trí mà phải thay vào đó bằng bản năng!

Giai cấp lãnh đạo của CSVN cố bám víu cái lấy cái học thuyết Mác-Lê bởi đó là cái phao cứu sinh cho ngai quyền lực của họ, bởi cũng phát xuất từ học thuyết này là chuyên chính vô sản, là sử dụng bạo lực để tiêu diệt các thế lực. CSVN vì muốn đặt quyền lợi của cá nhân, của giai cấp lên trên quyền lợi của dân tộc mà kiên định “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” nghĩa là họ quyết tâm đưa đất nước Việt nam tiếp tục đi trên một con đường được xây dựng bằng mồ hôi nước mắt và máu xương của đồng bào. Bởi vì họ khiếp nhược khi nhìn thấy Erich Honecker phải đi tỵ nạn công lý và cũng vì họ không muốn trở thành một Nicolae Ceausescu của Việt nam.

Đối với người dân Việt nam, chắc chắn ai cũng muốn được hít thở bầu không khí tự do, được quyền biểu lộ tình cảm của mình trước cái yêu, cái ghét, chắc chắm ai cũng khát khao được tự do bày tỏ chính kiến của mình, hay tự do lựa chọn người đại diện cho mình để điều hành đất nước. Ðừng vì quá khiếp nhược trước bạo quyền mà đành ngồi đó chờ điều kỳ diệu xãy đến như thể chờ sung rụng.

Vì quyền sống, quyền làm người của hơn 86 triệu người dân Việt, hãy vì sự hưng vong của nòi giống, hãy đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân và giai cấp, mà làm một Mikhail Gorbachev, một Boris Yeltsin của Việt nam.
Nếu là người yêu nước chân chính, hãy giải tán đảng cộng sản Việt nam, hãy giải tán cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hãy giải tán ngành công an và an ninh-cái dùi cui của cộng sản Việt nam… rồi những trang sử vàng của Viêt tộc sẽ lưu danh quý vị muôn đời. Dân Việt vốn tính hiếu sinh, sẽ không hành hình quý vị như người Romania đã hành hình nhà độc tài Nicolae Ceausescu. Người Việt Quốc gia vốn tính hiếu hòa, sẽ không xây dựng bất cứ trại tập trung cải tạo nào để đọa đày quý vị hay thuộc cấp của quý vị như quý vị đã giam cầm, đày đọa Quân Dân Cán Chính VNCH sau ngày quý vị đã cưỡng chiếm được miền Nam đâu.

Phúc Bảo Ân.

onsdag 18. november 2009

Dân Tộc Không Của Riêng Ai

Tinh thần yêu nước quật cường và dũng khí chống giặc cứu nước của các vị tiền nhân không chỉ để ghi danh muôn thuở mà còn để cho dân tộc Việt Nam có thể tự hào với các quốc gia khác. Nói đến lịch sử Việt Nam thì chúng ta không thể quên hai vị nữ vương đã từng làm chấn động cả thế gian vào năm Canh Tý 40. Dù là phận gái thuyền quyên, hai nữ tướng Trưng Trắc và Trưng Nhị cũng phất cờ khởi binh tại Mê Linh, đánh tan tác quân Tô Định của nhà Hán. Rồi trăm trận trăm thắng như Đinh Tiên Hoàng đã phá tan quân của Nam Tấn Vương cùng Thiên Sách, dụ hàng được Đổ Động của Nguyễn Cảnh Thạc, đặt quốc hiệu là Đại Cổ Việt (968) đóng đô ở Hoa Lư, thì đến Lê Đại Hành đã mưu trí giết chết tướng Hầu Nhân Bảo, diệt quá nửa quân Tống tại trận thuỷ chiến Bạch Đằng và bộ chiến ở ải Chi Lăng. Sau đó ông lập nghiệp đế vương và mở đầu một kỷ nguyên Đại Việt (981). Những thời vàng son của nhà Đinh, nhà Lý, nhà Lê, nhà Trần, nhà Nguyễn mãi sáng ngời trong sử sách. Những chiến công hiển hách của các trang nam tử, nữ anh hùng vẫn trôi theo dòng lịch sử hào hùng của nước Việt ta. Từ vị vua thông minh và quả quyết Trần Nhân Tông đã hai lần đập tan quân Nguyên Mông có ý đồ thống trị Đại Việt, được toàn dân chúng kính phục cho đến Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn đã chiến thắng quân Minh, lấy niên hiệu Lê Thái Tổ sau khi trở thành vị vua đầu tiên của nhà hậu Lê. Ta còn có “anh em Tây Sơn” Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (hay còn gọi là Bắc Bình Vương) và Nguyễn Lữ xuất binh đánh bại cuộc xâm lược của Đại Thanh từ phương Bắc để giành độc lập cho nước Đại Việt. Lại thêm vua Minh Mạng chính trực đã nghiêm minh trong phương cách đổi mới đất nước từ nội trị đến ngoại giao dưới thời nhà Nguyễn.

Chúng ta không thể cứ rơi nước mắt mãi. Hỡi toàn thể đồng bào quốc nội và đồng bào hải ngoại, hãy khóc một lần cuối rồi lau lệ cho khô. Hãy cùng nhau tay trong tay, vai kề vai nối thành một khối đại đoàn kết dân tộc. Chống giặc ngoại xâm phương Bắc là trách nhiệm của tất cả người con da vàng máu đỏ Việt Nam. Các bậc cha ông ngày trước đã có công gầy dựng và gìn giữ giang sơn gấm vóc thì nay chúng ta không thể giương mắt vô hồn nhìn từng mảnh đất quê hương bị cắt xén rồi dâng cho bọn bành trướng Trung Cộng một cách vô cớ. Bọn chúng huỷ hoại môi trường sinh sống của đất nước ta, phong tục tập quán của dòng giống ta, nhân bản con người của dân tộc ta thì chúng ta không thể bình chân như vại. Bọn chúng bóc lột sức lao động, nhập thực phẩm vào đầu độc người dân, bao thầu các công trình xây dựng trọng điểm bằng quyền lực áp đặt thì chúng ta không thể chấp nhận sự có mặt của chúng trên đất Nam này. Bọn chúng âm mưu đồng hoá chủng tộc, trừ diệt đồng bào tận gốc, áp dụng chính sách nô lệ chính trị thì chúng ta không thể im lặng chịu nhục.

Khi tất cả cùng hướng về quê hương Việt Nam chính là lúc chúng ta biến niềm tin thành vũ khí lợi hại nhất. Khi tất cả cùng chung nhịp thở với non sông Việt Nam chính là lúc chúng ta biến tinh thần đoàn kết thành sức mạnh bất diệt. Không một mãnh lực nào có thể ngăn chặn hùng khí vì đại nghĩa quốc gia của chúng ta. Không một thế lực nào có thể làm nhụt chí vì lý tưởng trường tồn cho dân tộc. Hãy đồng tâm lật đổ bọn bán nước cầu vinh Cộng Sản. Hãy chung sức dẹp tan lũ giặc Tàu Cộng đang hoành hành trên đất nước. Hãy tranh đấu để xây dựng một kỷ nguyên mới cho nước Việt Nam tươi sáng hơn.

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông. (Trích “Bình Ngô Đại Cáo” – Nguyễn Trãi)

Dân tộc là của tất cả người dân mang dòng máu Việt Nam.

Lê Nguyễn Huy Trần

Tin Nóng: Tình Trạng Lm. Nguyễn Văn Lý

Hoa Thịnh Đốn ngày 17 tháng 11, 2009
Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam (CRFV)

Lời Lm Nguyễn Văn Lý nói với các bác sĩ tại bệnh viện của bộ CACS Hà Nôi:”Nếu các ông gọi tôi là phạm nhân, tôi thà bị liệt và từ chối được chửa trị. Xin chở tôi trở về trại tù Ba Sao ngay lập tức.Tôi muốn các ông phải biết và khẳng định rằng tôi là một tù nhân lương tâm tại Việt Nam”.

4 giờ sáng Thứ Bảy 14 tháng 11, Lm Lý cầu nguyện và dâng lễ như thường lệ. Tự nhiên ông cảm thấy chóng mặt và té nằm trên nền gạch và nhận thức một nữa thân bên phải bị liệt hoàn toàn, mất mọi cãm giác và không cử động được.

Lm Lý nằm như thế rất lâu cho đến khi một cán bộ trại tù đi cung cấp nước sôi phát hiện. BGĐ trại tù Ba Sao quyết định đưa Lm Lý điều trị tại bệnh viện của bộ CA tại quận Cầu Giấy, Hà Nội vào sáng Thứ Bảy.
Đây là một quyết định vô cùng chậm trễ, vì trước đây, sau lần Lm bị tai biến mạch máu não lần đầu 25-5-2009, gia đình Lm Lý đã nhiều lần kêu gọi GM Nguyễn Như Thể, cũng như viết thư cho nhà cầm quyền CS, xin đưa Lm Lý ra nhà thương ngoài lao xá trị bệnh. Nhưng nhà tù và GM Nguyễn Như Thể hoàn toàn im tiếng.

Vào chiều tối Thứ Bảy 14-11, thiếu tá VC tên Nam, người cai ngục trực tiếp của Lm Lý đã gọi điện thoại khẩn cấp báo tình hình sức khỏe của Cha Lý với chị của ngài là bà Nguyễn Thị Hiểu.

Hai người cháu cha Lý là Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Công Hoàn đã rời Quảng Biên sáng Chủ Nhật và đến Hà Nội lúc 11 giờ sáng Thứ Hai. Hai giờ sau, họ mới được vào gặp Cha Lý cùng với sự hiện diện của 5. 6 CA gát tù.

Vào thời điểm này, Lm vẫn còn liệt nữa người, giọng của ngài hơi yếu. Nhưng ngài vẫn bình tỉnh, vững tin và lạc quan.

Bác sĩ cho biết họ đã làm một số thử nghiệm như CT, MRI và hình như đã thấy một vùng nghẻn nhỏ trong não của Lm. Tuy nhiên bác sĩ vẫn chưa đưa ra kết luận gì.

Mỗi ngày bác sĩ vẫn tiếp tục cho Lm Lý uống thuốc và vào nước biển.

Lúc đầu, hai người cháu được ở phòng bên cạnh Cha Lý và chỉ được vào gặp Cha khi cha cần thay quần áo, ăn uống hoặc làm vệ sinh cá nhân. Dĩ nhiên là vẫn dưới sự chứng giám của đám CA cai tù.

Nhưng đến tối Thứ Hai 16-11, CA đã cho phép anh Nguyễn Văn Hải ngủ chung phòng với cha. Nhờ vậy, Lm Lý được nói chuyện thoải mái, được cầu nguyện cũng như dâng lễ cùng người cháu.

Bầu khí im lặng nặng nề mà cha phải chịu đựng trong phòng biệt giam án tù lần thứ tư từ 30-3-2007 cho đến nay, khiến cha cảm thấy vô cùng cô đơn. Vì vậy khi có người thân bên cạnh, cha đã cầu nguyện và nói chuyện đến 3 giờ sáng.

Nhờ không khí đầm ấm này, tình trạng sức khỏe của cha thăng tiến vô cùng mau lẹ. Cánh tay phải của cha đã từ từ chuyển động lên xuống theo ý ông. Và với sự giúp đở của người cháu, cha có thể đi chậm chậm với cây nạng.

Với sự đồng ý của bác sĩ, cháu cha Lý đã mua một máy xoa bóp và cha cảm thấy rất thoải mái khi người cháu dùng máy này để xoa bóp trên người cha.

Tuy sức khoẻ còn nhiền hạn chế, nhưng tinh thần và ý chí của cha Lý vẫn tuyệt vời. Cha luôn luôn mĩm cười và đôi khi còn nói khôi hài với các CA cai ngục.

Vào Thứ Hai, Lm Lý có một phản ứng vô cùng quyết liệt, khi một nữ y tá đem thuốc cho cha , trong một cái bọc có ghi tên “phạm nhân Lý”. Cha không uống thuốc và đòi gặp ngay bác sĩ trưởng khoa. Ông nói với vị bác sĩ này:”Tôi không phãi là một phạm nhân. Cho đến khi nào quí vị còn gọi tôi là phạm nhân thì tôi từ chối tất cả các trị liệu mà quí vị dành cho tôi. Tôi là một tù- nhân-lương-tâm-tại-Việt Nam.” Vị bác sĩ đã khiêm nhường xin lỗi cha Lý về sự lầm lẩn này.. Và họ đã không còn gọi hoặc ghi vào bao thuốc danh từ “phạm nhân Lý” nửa.

Chiều Thứ Hai, Lm Lý được đi khám mắt với sự hiện diện của rất nhiều bác sĩ. Lm Nguyễn Văn Lý một lần nữa khẳng định.”Nếu quí vị còn gọi tôi là phạm nhân tôi sẽ từ chối mọi điều trị từ quí vị. Tôi thà chấp nhận tình trạng tê liệt hơn là bị gọi là “phạm nhân” hay “tội nhân thường phạm”, vì tôi là một tù-nhân-lương-tâm-tại-Việt-Nam.”. Và ngạc nhiên thay, tất cả các bác sĩ hiện diện đều đồng ý với Lm Nguyễn Văn Lý.

Với phong cách chừng chạc, tinh thần lạc quan và thái độ cởi mở vui vẻ, Lm Nguyễn Văn Lý đã gây được cảm tình với mọi người mà cha tiềp xúc tại bệnh viện của bộ CA tại Hà Nội. Vì vậy bọn cai tù đã tỏ ra dễ dãi hơn cho sự thăm nuôi của gia đình cha Lý. Suốt ngày họ để hai người cháu cha Lý túc trực ở phòng kế bên, để họ có thể vào phòng cha Lý bất cứ lúc nào mà ông cần.

Buổi sáng khi bác sĩ khám bệnh, các cháu cha Lý không được hiện diện. Nhưng vào buổi chiều và nhất là ban đêm, một người cháu có thể ngủ nghỉ chung phòng với cha Lý. Họ có thể cầu nguyện, dâng lễ và tâm sự bất cứ lúc nào.

Sau lần Lm Lý bị tai biến mạch máu não ngày 25-5-2009, một vài TNS và DB Hoa Kỳ nhờ chúng tôi đề nghị cùng Lm Lý, giúp đỡ đưa Lm sang Mỹ để chữa bệnh. Nhưng Lm Lý đã lịch sự cảm ơn và không nhận lời. Theo cha, nơi ông có thể tranh đấu hữu hiệu nhất cho Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền là tại VN; dù trong nhà tù nhỏ hay nhà tù lớn. Ông tin rằng, nếu qua Mỹ điều trị, dù đã bình phục, CS cũng sẽ không cho ông trở về. Theo ông tại hải ngoại, có nhiều người tài giỏi hơn ông, biết đường đi nước bước để hoạt động hay hơn ông, và chắc chắn sẽ thành công hơn ông.

Ông muốn trong khi tranh đấu cho tự do và nhân quyền cho toàn dân, ông còn có thể chia sẻ một chút cơm áo, thuốc men cho những tù nhân trong nhà tù nhỏ, hoặc cho đồng bào lương giáo trong vùng khi ông được sống trong nhà tù lớn.

UBTDTG/VN luôn tiếp tay và yễm trợ tổ chức Freedom-Now, một tổ chức đã thành công xin được 37 chữ ký của các vị TNS lưỡng đảng Hoa Kỳ, viết thư đòi CSVN phãi trả tự do cho Lm Lý “tức khắc và vô điều kiện”.

Hiện nay tổ chức nhân đạo này vẫn còn đang tiếp tục đòi hỏi sự công bằng mà CS đã muối mặt đàn áp những người yêu nước tại VN. Ước mong đòi hỏi chính đáng này sẽ được nhà cầm quyền CSVN thi hành dù miễn cưỡng.

Chúng Tôi cũng xin kêu gọi toàn thể quí vị cùng tham dự chương trình “Niềm Hy Vọng Của Quê Hương” do Lm Augustino Phạm Sơn Hà chủ xướng, mà chúng tôi xin chuyển trong file attached dưới đây.

Cũng xin toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước cầu nguyện cho người tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý.

Nguyện cầu Trời Phật và Thiên Chúa ban nhiều phước lành cho Tổ Quốc và dân tộc của chúng ta.

Kinh báo.

Ngô Thị Hiền