Thành Tích Bán Nước Của Đảng CSVN.
Trong dòng sông Việt sử cận đại, ta thấy có rất nhiều mốc thời gian quan trọng, phần lớn đều có liên quan tới Đảng Việt Cộng. Đầu tiên là năm 1930 ngày đảng được mẹ Liên xô sinh ra và trôi giạt tới xứ Việt. Năm 1945, đảng lượm được chính quyền bên vệ đường, khi quân phiệt Nhật bị ăn bom nguyên tử, phải tháo chạy khỏi Đông Dương. Năm 1954, nhờ các đồng chí Nga-Tàu và khối thứ ba trung lập nhưng bợ đít cọng sản, nên Hồ cướp được nửa mảnh cơ đồ Hồng Lạc. Ngày 30-4-1975, Việt Cộng đại công cáo thành, làm chủ cả nước, cho tới hôm nay. Tuy nhiên, nếu gọi là biến cố lịch sử bao đời, thì phải nhắc tới hiểm họa xâm lăng Trung Cộng, luôn muốn chiếm cho được Việt Nam, ròng rã liên tục suốt mấy ngàn năm máu lệ. Tóm lại những thành tích của Hồ và Đảng Việt Cộng, khởi sự từ năm 1958, công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ của Tàu nhưng chết người là sự Phạm văn Đồng, thay Hồ Chí Minh, ngày 4-9-1958, ký công nhận bản đồ và lời tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng là 12 hải lý. Như vậy, biển VN tại Quảng Nam, Phan Thiết, kể cả các nước Phi, Nam Dương, Mã Lai trong Đông Hải, từ bờ ra hải phận chỉ có 50 hải lý. Ngày 11-1-1974 Mao Trạch Đông tuyên bố, Hoàng Sa –Trường Sa là Tây Sa và Nam Sa, sau đó xua quân chiếm hai đảo trên vào ngày 19-1-1974. Hỡi ôi, chỉ vì manh tâm cướp chiếm miền Nam, Hồ Chí Minh và VC đã bán đứng hai quần đảo thiêng liêng của đất nước, cho kẻ thù truyền kiếp, tận tuyệt.
Rồi tháng 12/1999 và kế tiếp là tháng 12/2000, hết Đổ Mười, tới Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Nguyễn Mạnh Cầm và nhiều chóp bu khác trong đảng, đã bí mật sang Tàu, ký kết bán-nhượng cũng như dâng hiến cho giâc , nhiều đất đai dọc theo biên giới Việt Trung, trong đó có thác Bản Dốc, hang Pắc Pó và nhất là ải Nam Quan, một biểu tượng , được xem như hồn thiêng sông núi của dân tộc. Kế đó, VC lại tiếp tục bán nhượng cho Tàu, nhiều phần lãnh hải quan trọng trong Vịnh Bắc Phần, là nơi có tiềm năng dầu khí và ngư nghiệp rất lớn, của nước ta.
Không kể thời Bắc thuộc huyền hoặc, bao đời Việt Nam trong dòng lịch sử, khi mất nước cũng như hồi độc lập, ngoại trừ trường hợp bán nước duy nhất của Mạc Đăng Dung, cho nhà Minh vào năm 1540, không có một vua chúa nào, dám công khai đem một tấc đất biển, dâng bán cho giặc như Hồ Chí Minh và đảng VC dám làm..suốt thời kỳ 1930 cho tới ngày nay. Vậy mà lúc nào, cũng nói Trần Thiểm Bình, Hồ Hán Thương, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh..cõng rắn cắn gà nhà. Nhưng nay, sau ba mươi năm nhìn lại, chỉ riêng thành tích bán nước cho giặc, thì Hồ Chí Minh và đảng VC, còn tệ mạt gấp ngàn lần những nhân vật bị đời bêu rếu. Sau ngày 30-4-1975, thiên hạ khi nhắc tới cọng sản, đả quả quyết là chúng sẽ nghìn năm vĩnh tuyệt nhưng tới năm 2000, cả khối từ Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu..lăn đùng ngáp chết, chỉ còn bốn đảng Tàu, Việt, Bắc Hàn và Cu Ba phải quăng Lê-Mác-Mao-Hồ vào đáy huyệt, trải thảm đỏ, quỳ gối mở cửa, rước Mỹ và tư bản da trắng, da vàng, đem đô la vào cứu đảng. Tóm lại, ai nói hay nghĩ thế nào cũng được nhưng chắc chắc với một chánh quyền tham tàn, bạo ngược, hại dân và nhất là công khai bán nước, nên dù VC có được Trung Cộng hay Hoa Kỳ chống lưng, bảo vệ..thì sự sụp đổ của chế độ thối nát trên, nay đang sơn son thiếp vàng để bịp người, cũng chỉ là một lâu đài trên cát, chờ giờ đền tội, trước quốc dân và Tòa Án lịch sử muôn đời.
Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được cả nước VN, đảng VC lúc nào cũng rêu rao khoắc lác về độc lập tự do, vẹn toàn lãnh thổ. Thế nhưng mọi sự đã lộ nguyên hình, khi thành tích bán nước cho Tàu, phản bội quê hương bị toàn dân trong và ngoài nước phanh phui nguyền rủa. Nhờ đó, mà những cái loa Việt Gian bợ đít VC , từ bấy lâu nay tại hải ngoại, mới chịu khép miệng, vì không còn biết đâu mà mò.
Theo đó, ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm và toàn lũ trong Chính trị Bộ, đã lén lút, ký kết 2 Hiệp Ước bất bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Đất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu. Cũng may, thành tích trên sớm bị bật mí, còn không hậu quả biết đâu mà lường, vì VC chuyện gì cũng dám làm, miễn là bảo vệ được chiếc ngai vàng đẫm máu, để còn dịp vơ vét tài sản của đất nước và đồng bào.
Trước năm 1975, lúc nào CSVN cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài, Diệm-Nhu, Thiệu –Kỳ chạy theo Mỹ, nay rõ ràng hơn chính đảng VC và Hồ Chí Minh, mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới Tàu, nay sắp bỏ chân qua Mỹ-Nhật. Còn Cán bộ đảng thì tham nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước, chuyển hết ra nước ngoài, rửa tiền , đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai chết mặc bây. Đó chính là thành tích bán nước của Đảng VC hơn ba mươi ba năm quốc hận.
Hồ Ðinh
søndag 22. februar 2009
“Chiến Dịch 30 Tháng Tư Ðen 2009”.
Khi tôi được đọc bài “Tháng Tư Đen 2009”, nội dung bài viết, tha thiết kêu gọi đồng bào, vào tháng Tư hằng năm “không gửi tiền hoặc sẽ không về thăm Việt Nam” vào tháng Tư, tôi thấy điều ấy hợp lý, vì lẽ:
- Phản đối như vậy rất nhẹ nhàng, chúng ta không mất mát gì cả, đồng bào ta không bị hung hiểm, quê hương ta không bị thiệt thòi. Nhưng chính quyền Hà Nội hiện hữu trong tháng ấy thất thu nhiều trăm triệu đô la, chắc chắn họ sẽ tự hỏi vì sao? Rồi chính họ tự trả lời: Vì tham nhũng, vì độc tài, vì dâng đất hiến đảo, vì trù dập tôn giáo và các nhà dân chủ... Nên đồng bào hải ngoại cảnh cáo. Từ đấy họ sẽ ăn năn phần nào đi chăng?
- Phản đối bạo quyền Cộng sản Việt Nam, để họ biết rằng dẫu có ru ngủ “Khúc ruột xa nghìn dặm”, cũng không làm cho người Việt ở hải ngoại, dễ dàng nghe theo lời dụ dỗ ngọt ngào, mới ngày nào giết hại người vượt biên, những lời lẽ ấy chẳng qua cần tiền và cần chất xám để củng cố chế độ : Độc đảng, độc tài, độc ác.
- Phản đối việc công an ngăn ngừa hay bắt bớ sinh viên, học sinh và đồng bào đã biểu tình vì lòng thiết tha bảo vệ thổ cương, bị Bắc Phương dùng quyền lực lấn chiếm.
- Để bạo quyền Hà nội hiểu rằng, mỗi năm người Việt Hải ngoại gửi tiền về nước khoảng 8 tỉ đô la, không phải là ít, người Việt gửi tiền về nước, vì lòng vương vấn, thân thuộc giống nòi, nhưng không chấp nhận bất cứ chế độ nào hại dân, bán nước.
- Để cho nhân dân thế giới hiểu rằng, đồng bào Việt Nam ở hải ngoại, vì lòng yêu nước khó tha thứ chính quyền Hà Nội hiện hữu, đã, đang và sẽ dâng đất, hiến đảo, trù dập các nhà đấu tranh dân chủ, bắt bớ giam cầm những vị Hòa thượng, những Đức Cha một cách mù quán và hành hạ ác độc.
Chẳng những cá nhân tôi hưởng ứng, mà tôi còn E mail và điện thoại đến bà con và bạn bè, mong mỏi tiếp tay, ngoài ra với truyền thống “Chicago nói riêng và Illinois nói chung hằng năm ăn tết đúng ngày”, vào ngày mùng một tết Kỷ sửu, tôi sẽ xin phép, để tường trình với đông đảo bà con, xin hưởng ứng “chiến dịch 30 tháng Tư đen 2009”.
Tôi cũng mạo muội trân trọng đề nghị: Báo chí, truyền thanh, truyền hình của người Việt Quốc gia hải ngoại, xin vui lòng phổ biến tin tức này, vì đây là một trong những chiến dịch chống Cộng nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Thứ đến tôi xin mong mỏi quí vị hoặc đoàn thể Quốc gia hải ngoại, xin phổ biến “chiến dịch 30 tháng Tư đen 2009”, để bà con ở hải ngoại cùng được biết, hy vọng sẽ được đông đảo đồng bào hưởng ứng.
Chắc hẳn những người lớn tuổi, mong mỏi và hân hoan hưởng ứng chiến dịch “Tháng Tư Đen 2009”, vì biết quá rõ ràng Cộng sản Việt Nam là thế nào. Nhưng những người trẻ tuổi thì sao? Xin thưa, các vị Bác sĩ, Tiến sĩ, Nghị viên... có lẽ hiểu được, có đời sống sáng lạng hay danh vọng ở hải ngoại hôm nay, là do cha ông nhẫn nhục từ trại tù tối tăm của thiên đường Cộng sản. Từ sự liễu lĩnh thân thể nơi bể Đông, biết bao hung hiểm. Từ sự vượt biên nhục nhằn bằng đường bộ, mà đôi chân xơ xác, rã rời nơi rừng rú rậm rạp, trả giá bằng chết chóc, mới đến được bến bờ tự do. Từ những nhục nhằn dẫn dắt con cháu đến bến bờ tự do, mà ngày nay người tuổi trẻ có dịp mài miệt học hành, để trở thành các vị Bác sĩ, Tiến sĩ, Nghị viên... trẻ trung ở nơi xứ sở tự do ngày hôm nay.
Tôi cũng xin thưa thêm rằng, những người bị hay được gán ghép là “Ngụy quân, Ngụy quyền” đa số chỉ một lòng thiết tha bảo vệ Miền Nam tự do, không than thở hay trách móc những người cha ông. Những người “Ngụy quân, Ngụy quyền” ấy, đa số đã đem hết lòng nhiệt huyết noi gương trung trinh của tiền nhân, xả thân vì quốc gia dân tộc. Từ những tâm tình này, hy vọng tuổi trẻ thấy được và hiểu được điều đúng đắn, cần làm và nên làm, là sẽ luôn luôn gắn bó với nước Việt, với đồng bào và thân thương quê hương.
Nguyễn Lộc Yên
- Phản đối như vậy rất nhẹ nhàng, chúng ta không mất mát gì cả, đồng bào ta không bị hung hiểm, quê hương ta không bị thiệt thòi. Nhưng chính quyền Hà Nội hiện hữu trong tháng ấy thất thu nhiều trăm triệu đô la, chắc chắn họ sẽ tự hỏi vì sao? Rồi chính họ tự trả lời: Vì tham nhũng, vì độc tài, vì dâng đất hiến đảo, vì trù dập tôn giáo và các nhà dân chủ... Nên đồng bào hải ngoại cảnh cáo. Từ đấy họ sẽ ăn năn phần nào đi chăng?
- Phản đối bạo quyền Cộng sản Việt Nam, để họ biết rằng dẫu có ru ngủ “Khúc ruột xa nghìn dặm”, cũng không làm cho người Việt ở hải ngoại, dễ dàng nghe theo lời dụ dỗ ngọt ngào, mới ngày nào giết hại người vượt biên, những lời lẽ ấy chẳng qua cần tiền và cần chất xám để củng cố chế độ : Độc đảng, độc tài, độc ác.
- Phản đối việc công an ngăn ngừa hay bắt bớ sinh viên, học sinh và đồng bào đã biểu tình vì lòng thiết tha bảo vệ thổ cương, bị Bắc Phương dùng quyền lực lấn chiếm.
- Để bạo quyền Hà nội hiểu rằng, mỗi năm người Việt Hải ngoại gửi tiền về nước khoảng 8 tỉ đô la, không phải là ít, người Việt gửi tiền về nước, vì lòng vương vấn, thân thuộc giống nòi, nhưng không chấp nhận bất cứ chế độ nào hại dân, bán nước.
- Để cho nhân dân thế giới hiểu rằng, đồng bào Việt Nam ở hải ngoại, vì lòng yêu nước khó tha thứ chính quyền Hà Nội hiện hữu, đã, đang và sẽ dâng đất, hiến đảo, trù dập các nhà đấu tranh dân chủ, bắt bớ giam cầm những vị Hòa thượng, những Đức Cha một cách mù quán và hành hạ ác độc.
Chẳng những cá nhân tôi hưởng ứng, mà tôi còn E mail và điện thoại đến bà con và bạn bè, mong mỏi tiếp tay, ngoài ra với truyền thống “Chicago nói riêng và Illinois nói chung hằng năm ăn tết đúng ngày”, vào ngày mùng một tết Kỷ sửu, tôi sẽ xin phép, để tường trình với đông đảo bà con, xin hưởng ứng “chiến dịch 30 tháng Tư đen 2009”.
Tôi cũng mạo muội trân trọng đề nghị: Báo chí, truyền thanh, truyền hình của người Việt Quốc gia hải ngoại, xin vui lòng phổ biến tin tức này, vì đây là một trong những chiến dịch chống Cộng nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Thứ đến tôi xin mong mỏi quí vị hoặc đoàn thể Quốc gia hải ngoại, xin phổ biến “chiến dịch 30 tháng Tư đen 2009”, để bà con ở hải ngoại cùng được biết, hy vọng sẽ được đông đảo đồng bào hưởng ứng.
Chắc hẳn những người lớn tuổi, mong mỏi và hân hoan hưởng ứng chiến dịch “Tháng Tư Đen 2009”, vì biết quá rõ ràng Cộng sản Việt Nam là thế nào. Nhưng những người trẻ tuổi thì sao? Xin thưa, các vị Bác sĩ, Tiến sĩ, Nghị viên... có lẽ hiểu được, có đời sống sáng lạng hay danh vọng ở hải ngoại hôm nay, là do cha ông nhẫn nhục từ trại tù tối tăm của thiên đường Cộng sản. Từ sự liễu lĩnh thân thể nơi bể Đông, biết bao hung hiểm. Từ sự vượt biên nhục nhằn bằng đường bộ, mà đôi chân xơ xác, rã rời nơi rừng rú rậm rạp, trả giá bằng chết chóc, mới đến được bến bờ tự do. Từ những nhục nhằn dẫn dắt con cháu đến bến bờ tự do, mà ngày nay người tuổi trẻ có dịp mài miệt học hành, để trở thành các vị Bác sĩ, Tiến sĩ, Nghị viên... trẻ trung ở nơi xứ sở tự do ngày hôm nay.
Tôi cũng xin thưa thêm rằng, những người bị hay được gán ghép là “Ngụy quân, Ngụy quyền” đa số chỉ một lòng thiết tha bảo vệ Miền Nam tự do, không than thở hay trách móc những người cha ông. Những người “Ngụy quân, Ngụy quyền” ấy, đa số đã đem hết lòng nhiệt huyết noi gương trung trinh của tiền nhân, xả thân vì quốc gia dân tộc. Từ những tâm tình này, hy vọng tuổi trẻ thấy được và hiểu được điều đúng đắn, cần làm và nên làm, là sẽ luôn luôn gắn bó với nước Việt, với đồng bào và thân thương quê hương.
Nguyễn Lộc Yên
Tháng Tư Đen 2009
Tháng Tư Đen 2009
Tháng Tư người Việt, tái tê lòng
Từ đấy tự do khắc khoải mong
Việt cộng liên miên dâng đất đảo
Đồng bào vĩnh viễn giữ non sông!
Nhục nhằn vượt biển khó lo lường
Tơi tả rừng sâu, lắm đoạn trường!
Cảnh ấy, hãi hùng bao chết chóc?!
Nơi này, mong mỏi giữ thiên lương?!
Hỡi giống nòi! Cương thổ bảo tồn!
Hoàng Sa đảo ấy củagiang sơn!
Kìa người bán nước, người nhu nhược?!
Đâu kẻ thương dân, kẻ sắt son?!
Việt Nam thiếu nữ mặn mà trông
Trao đổi tiền nong, nói lấy chồng!
Hàn quốc, Em than đời bạc bẽo!
Đài Loan, Nàng khóc phận long đong!!!
Ngẫm nghĩ tháng Tư quá xót xa
Nỡ quên, thảm thiết khắp sơn hà?!
Gởi tiền ngày ấy, thêm chua chát
Thăm nước tháng này, khó mặn mà
Nguyễn Lộc Yên
Tháng Tư người Việt, tái tê lòng
Từ đấy tự do khắc khoải mong
Việt cộng liên miên dâng đất đảo
Đồng bào vĩnh viễn giữ non sông!
Nhục nhằn vượt biển khó lo lường
Tơi tả rừng sâu, lắm đoạn trường!
Cảnh ấy, hãi hùng bao chết chóc?!
Nơi này, mong mỏi giữ thiên lương?!
Hỡi giống nòi! Cương thổ bảo tồn!
Hoàng Sa đảo ấy củagiang sơn!
Kìa người bán nước, người nhu nhược?!
Đâu kẻ thương dân, kẻ sắt son?!
Việt Nam thiếu nữ mặn mà trông
Trao đổi tiền nong, nói lấy chồng!
Hàn quốc, Em than đời bạc bẽo!
Đài Loan, Nàng khóc phận long đong!!!
Ngẫm nghĩ tháng Tư quá xót xa
Nỡ quên, thảm thiết khắp sơn hà?!
Gởi tiền ngày ấy, thêm chua chát
Thăm nước tháng này, khó mặn mà
Nguyễn Lộc Yên
lørdag 21. februar 2009
Ủng Hộ Chiến Dịch Tháng Tư Đen 2009
Ủng Hộ Chiến Dịch Tháng Tư Đen 2009.
Lời Kêu Gọi Ủng Hộ Chiến Dịch Tháng Tư Ðen 2009
Không về Việt Nam, không gởi tiền vào dịp Tháng Tư Ðen
của Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do:
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do xin kêu gọi sự đồng tâm nhất trí, của tất cả mọi người Việt khắp nơi trên thế giới quyết tâm, tẩy chay, và nhất quyết không về Việt Nam hay là gởi tiền trong Tháng 4 Ðen 2009. Tuyệt đối dứt khoát không làm một việc gì để gián tiếp hay trực tiếp tiếp tay cho bè lũ quĩ đỏ CSVN vinh thân buôn dân, bán nước.
Kính thưa toàn thể quý đồng hương.
• Để tưởng niệm vong linh hàng trăm ngàn đồng bào bị vùi thây trên biển cả và trong rừng sâu trên bước đường đi tìm tự do.
• Để cảm thông với nổi đau xót nhục nhằn của bao nhiêu phụ nữ bị hãm hiếp bởi hải tặc trên đường lánh nạn cộng sản.
• Để lên án bạo quyền cộng sản đang tâm phá vỡ các đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam đã bỏ mình ở Mã Lai, Nam Dương.
• Để chống lại tập đoàn cộng sản đang dày xéo quê hương, với bao nhiêu tội lỗi tày trời áp đặt lên người dân Việt trong nhiều năm qua, kể cả tội phản quốc dâng đất và biển cho Trung Cộng.
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do tha thiết kêu gọi quý đồng hương cùng hưởng ứng và ủng hộ Chiến Dịch Tháng Tư Ðen 2009 đang được phát động khắp nơi trên toàn thế giới.
Sức mạnh của chúng ta hiện nay là 7 tỉ mỹ kim gửi về với số lượng Việt Kiều hằng năm về thăm nhà, vô hình chung đã đem lại nguồn lợi không nhỏ cho bạo quyền CSVN.
Thay vì lấy đó xây dựng đất nước, đảng CSVN chỉ tiếp tục củng cố ngôi vị và thẳng tay đàn áp nhân dân. Nếu chúng ta đồng loạt ý thức thực thi chiến dịch nầy thì đảng CSVN mất nguồn lợi, dù chỉ trong vòng một tháng. Ngoài ra đây cũng là thông điệp hồng gửi đến các nhà dân chủ đang đấu tranh trong nước cũng như đồng bào đang bị đàn áp tại quê nhà, chúng ta vẫn không quên đồng bào mình và vẫn sẵn sàng đấu tranh hổ trợ bằng mọi nỗ lực bất cứ hình thức nào.
Kính chào đoàn kết và quyết thắng trong niềm tin YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN.
Ban Ðiều Hành
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do
Lời Kêu Gọi Ủng Hộ Chiến Dịch Tháng Tư Ðen 2009
Không về Việt Nam, không gởi tiền vào dịp Tháng Tư Ðen
của Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do:
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do xin kêu gọi sự đồng tâm nhất trí, của tất cả mọi người Việt khắp nơi trên thế giới quyết tâm, tẩy chay, và nhất quyết không về Việt Nam hay là gởi tiền trong Tháng 4 Ðen 2009. Tuyệt đối dứt khoát không làm một việc gì để gián tiếp hay trực tiếp tiếp tay cho bè lũ quĩ đỏ CSVN vinh thân buôn dân, bán nước.
Kính thưa toàn thể quý đồng hương.
• Để tưởng niệm vong linh hàng trăm ngàn đồng bào bị vùi thây trên biển cả và trong rừng sâu trên bước đường đi tìm tự do.
• Để cảm thông với nổi đau xót nhục nhằn của bao nhiêu phụ nữ bị hãm hiếp bởi hải tặc trên đường lánh nạn cộng sản.
• Để lên án bạo quyền cộng sản đang tâm phá vỡ các đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam đã bỏ mình ở Mã Lai, Nam Dương.
• Để chống lại tập đoàn cộng sản đang dày xéo quê hương, với bao nhiêu tội lỗi tày trời áp đặt lên người dân Việt trong nhiều năm qua, kể cả tội phản quốc dâng đất và biển cho Trung Cộng.
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do tha thiết kêu gọi quý đồng hương cùng hưởng ứng và ủng hộ Chiến Dịch Tháng Tư Ðen 2009 đang được phát động khắp nơi trên toàn thế giới.
Sức mạnh của chúng ta hiện nay là 7 tỉ mỹ kim gửi về với số lượng Việt Kiều hằng năm về thăm nhà, vô hình chung đã đem lại nguồn lợi không nhỏ cho bạo quyền CSVN.
Thay vì lấy đó xây dựng đất nước, đảng CSVN chỉ tiếp tục củng cố ngôi vị và thẳng tay đàn áp nhân dân. Nếu chúng ta đồng loạt ý thức thực thi chiến dịch nầy thì đảng CSVN mất nguồn lợi, dù chỉ trong vòng một tháng. Ngoài ra đây cũng là thông điệp hồng gửi đến các nhà dân chủ đang đấu tranh trong nước cũng như đồng bào đang bị đàn áp tại quê nhà, chúng ta vẫn không quên đồng bào mình và vẫn sẵn sàng đấu tranh hổ trợ bằng mọi nỗ lực bất cứ hình thức nào.
Kính chào đoàn kết và quyết thắng trong niềm tin YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN.
Ban Ðiều Hành
Diễn Ðàn Người Việt Yêu Nước Yêu Tự Do
Thế Nào Là Hòa Giải - Hòa Giải
Thế Nào Là Hòa Giải - Hòa Giải
Đảng CSVN nghĩ rằng, với những xa hoa vật chất nơi xứ người, sẽ làm cho người Việt Tỵ Nạn CS say mê để quên đi tất cả, trở thành những kẻ vong bản, vô tình, vô nghĩa, vô thủy, vô chung như họ đã từng rêu rao. Tuy nhiên khi nhìn lại thực chất, Đảng CSVN mới bừng tỉnh để thấy được chính những hạnh phúc phồn vinh ấy, đã tạo cho người Việt Tỵ Nạn một sự trăn trở khi nhìn về quê hương và dân tộc đang ngụp lặn trong khốn cùng, đau khổ, nhục nhã dưới bàn tay khát máu, tàn bạo của tập đoàn đốn mạt CSVN. Từ đó, tinh thần quốc gia, yêu tự do, hoà bình và nhân bản được phát triển một cách mạnh mẽ hơn và tinh thần đấu tranh mỗi ngày một dâng cao, cố gắng bương trải tìm mọi cách để có thể chia sẻ những hạnh phúc ấy với quê hương dân tộc, đặc biệt là những điều căn bản tự do, dân chủ và nhân quyền. Điều này đã khiến Đảng CSVN trở nên bối rối và lo sợ, và cũng chính vì thế Đảng CSVN đã phải thay đổi “Tư Duy”, không còn chửi bới phỉ báng, mà ngược lại bắt đầu o bế, nịnh bợ và phát động chiến dịch kêu gọi “Hòa Giải” hay khút ruột xa ngàn dặm.
Sau nhiều năm kêu gọi bằng nhiều cách, như thành lập “Hội Việt Kiều; Qũy Yểm Trợ Cộng Đồng” và sau cùng Ðảng CSVN bịp bợm bằng Nghị Quyết 36 đã được đưa ra vào cuối tháng 3năm 2003, mà đại đa số Cộng Đồng Hải Ngoại ai cũng biết. Mặc dù đã cố gắng dùng mọi thủ đoạn bịp bợm trong nhiều năm, nhưng chiêu bài “Hòa Giải” này Ðảng CSVN cũng không được “ăn khách”, tưởng chừng như đã bị trôi vào lãng quên.
Sau khi phát động “Chiến Dịch Chống Tầu Cộng” qua sự kiện Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa chiêu bài “Hoà Giải” bịp bợm này lại tái xuất hiện qua một bài viết mang tên “Hoà giải là sống còn của đất nước, là nhu cầu khẩn trương” được ký dưới bút hiệu Nguyễn Tường Long. Theo bài viết, tác giả cố gắng kêu gọi khối người Việt Tỵ Nạn CS tại Hải Ngoại nên “khép lại qúa khứ, xóa bỏ hận thù” để bắt tay “Hòa Giải” với Đảng CSVN, tạo sức mạnh cùng nhau “chống ngoại xâm”. Và bài viết này cũng đang tạo ra một làn sóng tranh cãi trong dư luận, nhất là trên các diễn đàn điện tử. Nó tựa như một trái khói mù tung ra, mong đánh lạc hương đấu tranh trong cục diện hiện tại.
Ngược dòng lịch sử đất nước, với “Một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tầu và một trăm năm nộ lệ bởi giặc Tây”, Hoàng Sa, Bản Giốc, Nam Quan vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chỉ hơn ba mươi năm được gọi là Thống Nhất, Độc Lập dưới chế độ đốn mạt, phi nhân của Ðảng CSVN thì tất cả đã mất. Vậy thử hỏi bọn CSVN là giống gì, mà đần độn, hèn hạ đến nỗi, làm mất cả đất đai của Tổ Tiên. Hơn nữa, đất nước hiện tại cũng đã trở thành một "Nhà Tù Vĩ Đại" không cửa sổ. Tất cả những lọc lừa, khủng bố, đàn áp, bóc lột, không chừa một ai, từ những nhà bất đồng chính kiến, những vị lãnh đạo tôn giáo và thậm chí những phụ nữ tay yếu chân mềm, những em bé ngây thơ cũng không thoát khỏi bị đem bán làm nô lệ tình dục dưới mọi hình thức. Ngay cả những nơi ăn, chốn ở, thậm chí đến cả nải chuối buồng cau, con gà, con vịt, là những tư hữu tối thiểu của người dân, nhưng bây giờ tất cả những thứ đó, có thực sự còn là của họ hay không, hay tất cả đã thuộc về Đảng CSVN ? Như vậy sự đấu tranh của người dân Việt nói chung và Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn nói riêng trong hiện tại, chắc chắn không phải thuần túy phát xuất từ một quá khứ hận thù, mà nó được kết tinh từ những khốn cùng của đất nước, đau thương của dân tộc trong quá khứ cũng như hiện tại từ hơn nửa thế kỷ qua.
Người dân cả Ba Miền (Bắc Trung Nam), đã bỏ nước ra đi bằng những con đường khốn khổ, đau thương nhất, không phải thuần túy đi tìm miếng cơm, manh áo cá nhân, hay vì sợ sự trả thu` chế độ CS, hoặc vì sự hận thù của một thời quá khứ như Ðảng CSVN đã gán ghép, mà tất cả chỉ vì họ quá kinh tởm cái chế độ khát máu, phi nhân, được cai trị bởi một bọn thú đội lốt người. Do đó, nhớ hay quên quá khứ không phải là điểm then chốt của vấn đề, mà chính là cái đốn mạt, dã man, cuồng bạo của guồng máy cai trị CSVN. Người ta thường nói "kẻ nào cột, thì người ấy phải gỡ". Vì vậy, muốn xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ để “Hoà Giải”, chắc chắn phải thiêu hủy cái cơ chế đã gây ra hận thù, tạo ra những đau thương cho dân tộc và điếm nhục cho quê hương mới là điểm then chốt.
Trở lại vấn đề, ai hoà giải với ai, thực sự Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Hải Ngoại và Đồng Bào Ruột Thịt trong nước chưa bao giờ bất hoà, nên không cần thiết phải nhắc đến hai chữ "Hoà Giải", những bương trải đấu tranh của họ không ngoài mục đích đi tìm tự do, hạnh phúc cho toàn dân, không phải để đòi lại những tài sản hay thân xác của từng cá nhân đã bị CSVN cưỡng đoạt. Do đó, nói đến một sự “Hoà Giải” đúng nghĩa và hợp lý, thì chính CSVN là kẻ gây ra đau thương, hận thù, nhục nhã cho Quê Hương và Dân Tộc, tất nhiên phải biết ăn năn, hối cải để hoà giải với với toàn dân. CSVN phải thật lòng, đừng mỵ dân thêm nữa, hãy cúi đầu xám hối, chế độ phải thay đổi toàn bộ, phải vất bỏ cái Lý Thuyết CS không tưởng, đốn mạt phi nhân bản CS vào thùng rác lịch sử như các nước CS Đông Âu đã thực hiện.
Ngoài ra, CSVN phải thể hiện thiện chí bằng một xã hội tự do dân chủ đúng đắn, phóng thích ngay những nhà đấu tranh dân chủ, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo đang bị quản chế hay giam cầm, phải lắng nghe tất cả những tiếng nói lương tri từ mọi tầng lớp xã hội một cách chân thành bằng tự do thông tin và tự do ngôn luận, trả lại quyền tự quyết của dân tộc mà CSVN đã từng cưỡng chiếm. Nếu thực hiện được như vậy, chắc chắn người dân sẽ không hẹp hòi gì để nhắc lại quá khứ. Họ sẵn sàng khép lại tất cả những hận thù đau khổ, để cùng nhau bắt tay xây dựng lại non sông sau bao nhiêu năm khốn khổ, băng hoại do CSVN gây ra.
Thiết nghĩ có lẽ giờ đây cũng không còn ai có thể ngây ngô, lầm lẫn với chiêu bài “Hoà Giải” của CSVN nữa, và nếu bất cứ ai đòi hỏi mộ sự hoà giải mà không đi kèm những điều kiện nêu trên, thì đó chỉ là một sự cưỡng từ đoạt lý lừa bịp, nếu không phải là CS chính gốc thì cũng là những “con vẹt” tay sai đang giúp CSVN trong mưu đồ xích hoá Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn hầu củng cố cho chế độ phi nhân CSVN thêm vững chắc để tiếp tục buôn dân, bán nước, phá hoại Giang Sơn.
Phạm Thanh Phương
Đảng CSVN nghĩ rằng, với những xa hoa vật chất nơi xứ người, sẽ làm cho người Việt Tỵ Nạn CS say mê để quên đi tất cả, trở thành những kẻ vong bản, vô tình, vô nghĩa, vô thủy, vô chung như họ đã từng rêu rao. Tuy nhiên khi nhìn lại thực chất, Đảng CSVN mới bừng tỉnh để thấy được chính những hạnh phúc phồn vinh ấy, đã tạo cho người Việt Tỵ Nạn một sự trăn trở khi nhìn về quê hương và dân tộc đang ngụp lặn trong khốn cùng, đau khổ, nhục nhã dưới bàn tay khát máu, tàn bạo của tập đoàn đốn mạt CSVN. Từ đó, tinh thần quốc gia, yêu tự do, hoà bình và nhân bản được phát triển một cách mạnh mẽ hơn và tinh thần đấu tranh mỗi ngày một dâng cao, cố gắng bương trải tìm mọi cách để có thể chia sẻ những hạnh phúc ấy với quê hương dân tộc, đặc biệt là những điều căn bản tự do, dân chủ và nhân quyền. Điều này đã khiến Đảng CSVN trở nên bối rối và lo sợ, và cũng chính vì thế Đảng CSVN đã phải thay đổi “Tư Duy”, không còn chửi bới phỉ báng, mà ngược lại bắt đầu o bế, nịnh bợ và phát động chiến dịch kêu gọi “Hòa Giải” hay khút ruột xa ngàn dặm.
Sau nhiều năm kêu gọi bằng nhiều cách, như thành lập “Hội Việt Kiều; Qũy Yểm Trợ Cộng Đồng” và sau cùng Ðảng CSVN bịp bợm bằng Nghị Quyết 36 đã được đưa ra vào cuối tháng 3năm 2003, mà đại đa số Cộng Đồng Hải Ngoại ai cũng biết. Mặc dù đã cố gắng dùng mọi thủ đoạn bịp bợm trong nhiều năm, nhưng chiêu bài “Hòa Giải” này Ðảng CSVN cũng không được “ăn khách”, tưởng chừng như đã bị trôi vào lãng quên.
Sau khi phát động “Chiến Dịch Chống Tầu Cộng” qua sự kiện Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa chiêu bài “Hoà Giải” bịp bợm này lại tái xuất hiện qua một bài viết mang tên “Hoà giải là sống còn của đất nước, là nhu cầu khẩn trương” được ký dưới bút hiệu Nguyễn Tường Long. Theo bài viết, tác giả cố gắng kêu gọi khối người Việt Tỵ Nạn CS tại Hải Ngoại nên “khép lại qúa khứ, xóa bỏ hận thù” để bắt tay “Hòa Giải” với Đảng CSVN, tạo sức mạnh cùng nhau “chống ngoại xâm”. Và bài viết này cũng đang tạo ra một làn sóng tranh cãi trong dư luận, nhất là trên các diễn đàn điện tử. Nó tựa như một trái khói mù tung ra, mong đánh lạc hương đấu tranh trong cục diện hiện tại.
Ngược dòng lịch sử đất nước, với “Một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tầu và một trăm năm nộ lệ bởi giặc Tây”, Hoàng Sa, Bản Giốc, Nam Quan vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chỉ hơn ba mươi năm được gọi là Thống Nhất, Độc Lập dưới chế độ đốn mạt, phi nhân của Ðảng CSVN thì tất cả đã mất. Vậy thử hỏi bọn CSVN là giống gì, mà đần độn, hèn hạ đến nỗi, làm mất cả đất đai của Tổ Tiên. Hơn nữa, đất nước hiện tại cũng đã trở thành một "Nhà Tù Vĩ Đại" không cửa sổ. Tất cả những lọc lừa, khủng bố, đàn áp, bóc lột, không chừa một ai, từ những nhà bất đồng chính kiến, những vị lãnh đạo tôn giáo và thậm chí những phụ nữ tay yếu chân mềm, những em bé ngây thơ cũng không thoát khỏi bị đem bán làm nô lệ tình dục dưới mọi hình thức. Ngay cả những nơi ăn, chốn ở, thậm chí đến cả nải chuối buồng cau, con gà, con vịt, là những tư hữu tối thiểu của người dân, nhưng bây giờ tất cả những thứ đó, có thực sự còn là của họ hay không, hay tất cả đã thuộc về Đảng CSVN ? Như vậy sự đấu tranh của người dân Việt nói chung và Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn nói riêng trong hiện tại, chắc chắn không phải thuần túy phát xuất từ một quá khứ hận thù, mà nó được kết tinh từ những khốn cùng của đất nước, đau thương của dân tộc trong quá khứ cũng như hiện tại từ hơn nửa thế kỷ qua.
Người dân cả Ba Miền (Bắc Trung Nam), đã bỏ nước ra đi bằng những con đường khốn khổ, đau thương nhất, không phải thuần túy đi tìm miếng cơm, manh áo cá nhân, hay vì sợ sự trả thu` chế độ CS, hoặc vì sự hận thù của một thời quá khứ như Ðảng CSVN đã gán ghép, mà tất cả chỉ vì họ quá kinh tởm cái chế độ khát máu, phi nhân, được cai trị bởi một bọn thú đội lốt người. Do đó, nhớ hay quên quá khứ không phải là điểm then chốt của vấn đề, mà chính là cái đốn mạt, dã man, cuồng bạo của guồng máy cai trị CSVN. Người ta thường nói "kẻ nào cột, thì người ấy phải gỡ". Vì vậy, muốn xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ để “Hoà Giải”, chắc chắn phải thiêu hủy cái cơ chế đã gây ra hận thù, tạo ra những đau thương cho dân tộc và điếm nhục cho quê hương mới là điểm then chốt.
Trở lại vấn đề, ai hoà giải với ai, thực sự Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Hải Ngoại và Đồng Bào Ruột Thịt trong nước chưa bao giờ bất hoà, nên không cần thiết phải nhắc đến hai chữ "Hoà Giải", những bương trải đấu tranh của họ không ngoài mục đích đi tìm tự do, hạnh phúc cho toàn dân, không phải để đòi lại những tài sản hay thân xác của từng cá nhân đã bị CSVN cưỡng đoạt. Do đó, nói đến một sự “Hoà Giải” đúng nghĩa và hợp lý, thì chính CSVN là kẻ gây ra đau thương, hận thù, nhục nhã cho Quê Hương và Dân Tộc, tất nhiên phải biết ăn năn, hối cải để hoà giải với với toàn dân. CSVN phải thật lòng, đừng mỵ dân thêm nữa, hãy cúi đầu xám hối, chế độ phải thay đổi toàn bộ, phải vất bỏ cái Lý Thuyết CS không tưởng, đốn mạt phi nhân bản CS vào thùng rác lịch sử như các nước CS Đông Âu đã thực hiện.
Ngoài ra, CSVN phải thể hiện thiện chí bằng một xã hội tự do dân chủ đúng đắn, phóng thích ngay những nhà đấu tranh dân chủ, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo đang bị quản chế hay giam cầm, phải lắng nghe tất cả những tiếng nói lương tri từ mọi tầng lớp xã hội một cách chân thành bằng tự do thông tin và tự do ngôn luận, trả lại quyền tự quyết của dân tộc mà CSVN đã từng cưỡng chiếm. Nếu thực hiện được như vậy, chắc chắn người dân sẽ không hẹp hòi gì để nhắc lại quá khứ. Họ sẵn sàng khép lại tất cả những hận thù đau khổ, để cùng nhau bắt tay xây dựng lại non sông sau bao nhiêu năm khốn khổ, băng hoại do CSVN gây ra.
Thiết nghĩ có lẽ giờ đây cũng không còn ai có thể ngây ngô, lầm lẫn với chiêu bài “Hoà Giải” của CSVN nữa, và nếu bất cứ ai đòi hỏi mộ sự hoà giải mà không đi kèm những điều kiện nêu trên, thì đó chỉ là một sự cưỡng từ đoạt lý lừa bịp, nếu không phải là CS chính gốc thì cũng là những “con vẹt” tay sai đang giúp CSVN trong mưu đồ xích hoá Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn hầu củng cố cho chế độ phi nhân CSVN thêm vững chắc để tiếp tục buôn dân, bán nước, phá hoại Giang Sơn.
Phạm Thanh Phương
torsdag 19. februar 2009
Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam
Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam
Chính sách đối với Việt Nam
Trung Cộng từ hơn 30 năm qua (không kể trong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975), đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TC định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền nước lớn và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông.
Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới. Đó là chính sách chung của mọi quốc gia. Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TC đầu tư vì:
- Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TC vốn dĩ đã quá rẻ mạt;
- Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TC hiện tại;
- Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc.
Từ 3 yếu tố trên, CSVN đối với TC có thể được ví như là Mễ Tây Cơ với Hoa Kỳ
trong lãnh vực đầu tư và sản xuất.
Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TC di chuyển xuống Việt Nam là TC tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn. Còn về tâm lý chung của hai dân tộc, có nhiều điểm tương đồng chính nhất là việc quan hệ kinh doanh dựa theo cách tiếp cận có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh.
Hãy nghe Zou Qinghai, chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang tuyên bố:” Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc. Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Quốc”.
Hiện tại, tính đến cuối năm 2005, đầu tư của TC chính thức vào Việt Nam tương đối còn khiêm nhường so với các quốc gia trong vùng như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn là 734 triệu Mỹ kim so với hơn 50 tỷ của ba nước vừa kể trên. Nhưng qua những con số không chính thức có liên quan đến những đối tác Hồng Kông thì mức thẩm thấu vào Việt Nam có thể lên đến 3,7 tỷ. Và thương mãi hai chiều dự kiến trong năm 2008 là trên 10 tỷ Mỹ kim.
Các công ty TQ chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TC đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm tại Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TQ vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TC có thể chuyển ngành dệt sang VN để tránh vấn đề hạng ngạch (quota) trong việc xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.
Ảnh hưởng lên môi sinh Việt Nam
Gần 20 năm qua, TQ đã bắt đầu chuyển dịch các cơ sở sản xuất qua VN vì áp lực của luật ô nhiễm môi trường ở bản địa là chính. Các đầu tư di chuyển về VN cũng vì luật lệ ở TC nghiêm ngặt hơn qua việc bảo vệ môi trường ở một số khu vực tại TQ, đặc biệt ở các tỉnh ở miền duyên hải như Thượng Hải, Hong Kong, Triết Giang.
Những tỉnh nầy khuyến khích đầu tư ở Việt Nam đối với các công nghệ gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất như công nghệ thép, plastic, điện tử, hoá chất v.v... Cơ quan bảo vệ môi trường ở các tỉnh trên đã bắt đầu ngăn cấm và tước quyền sử dụng đất, nước, và điện của những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Đó cũng là một trong những lý do chính để các nhà đầu tư TC xuôi Nam, một nơi có chi phí dùng trong an toàn lao động rẻ mạt.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của TC. Tư thế của một đàn em CSVN trước một đàn anh nước lớn TC cho đến nay vẫn là một sự thuần phục hoàn toàn. Thuần phục trong tư thế chính trị, quân sự lẫn kinh tế. TC đã tạo được một sức ép quá mạnh trong ba lãnh vực trên, khiến cho Việt Nam luôn luôn đang ở thế bị động và không thể nào thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ba gọng kền trên.
Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Cộng, chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam và các quốc gia lân cận, đó là:
1 - Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn,
2 - Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới,
3 – Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất,
4 - Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy,
5 - Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội,
6 - Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau,
7 - Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Tây nguyên (Cao nguyên).
Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn:
Từ năm 2001, tên Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ.
Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như bọn đầu lãnh CSVN biện minh cho việc xây dựng nầy, vì với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không có việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ qua kinh nghiệm hai trận chiến ở Iraq và Afganistan.
Thiết nghĩ đây là con đường chiến lựơc dành cho mục đích kinh tế-chính trị, nhưng không hẳn để áp dụng cho Việt Nam vì trong suốt chiều dài của xa lộ là vùng thưa dân cư nếu không nói là hoang dã.
Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều ở miền Tây Trung Cộng ra hải ngoại. Thử hỏi, Quốc lộ I, con đường huyết mạch của Việt Nam, cần phải được nâng cấp vì nhu cầu giao thông và phát triển cho Việt Nam, nhất là từ Quảng Trị trở ra Bắc nhưng tại sao không được lưu tâm đến ?
Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền Quảng Trị và thành phố Tchepone va Sawannakhet của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TC có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông.
Về nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tuy vùng nầy không có hạ tầng cơ sở như giao thông, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và rất xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung Cộng, thay vì phải chuyển vận bằng xe từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém? Có phải, chính vì các lý do trên mà Việt Nam chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án từ ban đầu.
Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải trên 20 ngàn tấn nối liền Vân Nam (Tây Nam Trung Cộng), Thái, Lào, và Việt Nam, và giao thương với thế giới. Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Cộng; do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phảm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu.
Thiết lập xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố. Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Cộng đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe lữa dựa theo tiêu chuẩn Trung Cộng; do đó, xe lửa Việt Nam không thể sử dụng được.
Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe lửa hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác ? Đó là con đường tháo chạy an toàn cho bọn đầu lãnh CSVN hiện tại, mỗi khi có biến động lớn ở Việt Nam ?
Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đấn tháng 11-2008người Trung hoa được tự do đi lại, không cần hộ chiếu chỉ ở các tỉnh miền Bắc. Sau ngày trên, người Trung hoa có thể đi lại vào tận cao nguyên thậm chí đến tận Cà Mau không cần xin hộ chiếu.
Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho Trung Cộng để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Hiện tại, tại Sài Gòn, hoá chất bảo vệ thực vật không nhản hiệu được bày bán tự do, đủ loại thực phẩm, cây trái được bày bán ở thị trường miền Nam.
Thử hỏi, thời gian thu hoạch trong nội địa Trung Cộng, chuyển vận bằng xe từ biên giới Bắc Việt (không có máy điều hoà không khí) xuôi Nam, làm sao các thực phẩm cây trái trên vẫn còn tươi rói, thậm chí cả cuống và lá vẫn xanh tươi như vừa mới hái? Một trong những nguồn lợi chính của Đà Lạt là rau cũ, nhưng thị trường đã bị ối động vì không địch lại với hàng Trung Cộng vì giá rẻ hơn, trong khi phí tổn chuyên chở rất cao.
Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính tên Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, thậm chí có những góp ý hoàn toàn trái ngược của Võ Nguyên Giáp, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Cộng và Úc Châu.
Tất cả đểu khuyến cáo là không hiệu quả kinh tế và mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính Trung Quôc phải đóng cửa một nhà máy mới vừa khánh thành tiêu tốn trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và sức ép của luật môi trường. Chính vì vậy mà CSVN “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Cộng cung cấp.
Hiện tại (tháng 2, 2009), theo tướng Giáp, đã có trên 100 nhân viên TC hiện diện ở hai công trường nầy Theo dự tính sẽ có trên 2000 công nhân và kỹ sự TC cho công trình trên. Họ đã xây dựng lều trại, chuyển chở thiết bị và dụng cụ để khai thác quặng mõ (hay thiết bị quân sự để thăm dò vùng tài nguyên dồi dào của cao nguyên Trung phần nầy?). Ngoài ra, hiện tại còn có theo ước tính trên 100 ngàn di dân Trung Cộng đang hiện diện nơi đây.
Cùng với dự án khai thác bauxite còn hai dự án phụ góp phần vào là dự án xây dựng tuyến đường sắt nối liền Tây Nguyen và Bình Thuận và dự án xây dựng bến cảng Bình Thuận để chuyển tải alumin (giai đoạn đầu trước khi tinh luyện ra nhôm kim loại) bằng đường hoả xa và đường biển.
Do đó, dự án khai thác bauxite đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy.
Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị hủy diệt, cùng vùng đất khai thác và vùng đất chứa bùn đỏ bị hoang hoá hoàn toàn.
Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn alumin hàng năm, phải cần đền một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, tính cách khả thi của dự án không cao, nếu không nói là bất khả thi.
Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bõ dùi hay không? Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc khai thác nhôm? Sự hiện diện của công nhân, chuyên viên, kỹ sư Trung Cộng ở vùng Cao nguyên, xương sống của Việt Nam, nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước, có thể là một nhân tố chính trị-quânsự- kinh tế để Trung Cộng có thêm điều kiện để khống chế Việt Nam ?
Nhu cầu nhôm của Việt Nam hàng năm vào khoảng 100 đến 150 ngàn tấn dễ dàng được nhập cảng từ Úc châu. Thử hỏi với lượng sản xuất hàng triệu tấn dùng để xuất cảng sang Trung Cộng mà thôi, do đó, càng thêm bị lệ thuộc vào quốc gia nầy, và dễ dàng bị khuynh đão cũng như áp lực của Trung Cộng.
Nếu tổng hợp bảy mắc xích trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự-kinh tế-chính trị. Nhưng sự phối hợp đó có thể chỉ để phục vụ cho nhu cầu của đàn anh nước lớn để:
Chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Cộng sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế. Sản phẩm nhập cảng chiến lược của Trung Quốc là dầu khí, và Dung Quất sẽ là nguồn cung cấp quan trọng cho vùng nầy. Và biết bao lợi ích khác nữa cho Trung Cộng cả về kinh tế lẫn quân sự và chính trị.
Nếu dự kiến cảnh tượng trên đây là một sự thật thì đây sẽ không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.
Xuyên qua bảy cản ngại đã phân tích ở phần trên để lý giải cho việc phát triển không đồng bộ đưa đến tình trạng bế tắc hiện tại của Việt Nam trong vấn đề hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới, CSVN đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, do đó không còn đủ sức quán tính mạnh để vượt ra khỏi rào cản thần phục và xin-cho, để rồi cuối cùng giải pháp thần phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn nhất cho công cuộc bảo vệ quyền lực.
Từ những lý do đó, làm sao CSVN có thể đem lại niềm tin cho người dân được. Biết đến bao giờ thái độ thần phục của CSVN được chấm dứt để cho người dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân của mình. Lịch sử Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi lại những trang sử đen tối của dân tộc trong giai đoạn nầy.
Thay lời kết
Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Cộng và lý tính thuần phục của CSVN hiện tại.
Đất Nước là Đất Nước của chung, của cả dân tộc. Từ người lãnh đạo quản lý Đất Nước cho đến người dân cùng đinh trong xã hội cần phải được dự phần và chia xẻ trách nhiệm đối với Đất Nước.
Ở các quốc gia tiến bộ và phát triển, người có quyền hạn càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Một tai nạn xe lữa hay máy bay có thể khiến cho ông/bà Bộ trưởng Giao thông phải nhận lãnh trách nhiệm và từ chức. Huống chi trong việc quản lý một Đất Nước.
Ðảng CSVN từ bao năm nay, đưa ra biết bao chính sách, kế hoạch... bị phá sản mà nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để có điều kiện đề ra những chính sách phá sản khác! Đó là một trong nhiều nghịch lý làm trì trệ sự tiến hóa và phát triển của Dân tộc.
Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản Việt Nam đều do cộng sản TC điều khiển từ xa; CSVN hoàn toàn không còn khả năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý” của Trung Quốc. Qua việc đàn áp người dân trong nước trong khi biểu tình chống TQ lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như qua việc Việt Nam để công an TQ đàn áp người dân trong khi biểu tình chống việc rước đuốc thế vận vừa qua đủ để nói lên tính nô lệ TQ của nhà cầm quyền cộng sản Viêt Nam hiện tại.
Hiện tại, nội bộ đảng cộng sản Việt Nam đang có nhiều rạn nứt trầm trọng, và rạn nứt nầy có thể làm cho đảng cộng sản tan rã trong tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải chờ đợi trong thụ động mà cả người Việt trong nước hay tại hải ngoại cần phải thúc đẩy càng mạnh thêm để tiến trình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam diễn ra càng nhanh hơn nữa.
“Quan hệ” hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây được ca ngợi bằng 16 chữ vàng: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” đã được người dân Hà Nội đổi lại một cách mỉa mai là:”Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tín tương lai”.
Sách Lịch sử Việt Nam của Cụ Trần Trọng Kim có ghi là Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trải qua bốn lần bị Bắc thuộc. Ngày hôm nay, có thể được ghi thêm là Bắc thuộc lần thứ năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 và kết thúc vào ngày … Ngày đó sẽ do tất cả người Việt trong và ngoài nước quyết định.
Mai Thanh Truyết
Chính sách đối với Việt Nam
Trung Cộng từ hơn 30 năm qua (không kể trong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975), đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TC định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền nước lớn và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông.
Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới. Đó là chính sách chung của mọi quốc gia. Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TC đầu tư vì:
- Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TC vốn dĩ đã quá rẻ mạt;
- Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TC hiện tại;
- Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc.
Từ 3 yếu tố trên, CSVN đối với TC có thể được ví như là Mễ Tây Cơ với Hoa Kỳ
trong lãnh vực đầu tư và sản xuất.
Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TC di chuyển xuống Việt Nam là TC tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn. Còn về tâm lý chung của hai dân tộc, có nhiều điểm tương đồng chính nhất là việc quan hệ kinh doanh dựa theo cách tiếp cận có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh.
Hãy nghe Zou Qinghai, chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang tuyên bố:” Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc. Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Quốc”.
Hiện tại, tính đến cuối năm 2005, đầu tư của TC chính thức vào Việt Nam tương đối còn khiêm nhường so với các quốc gia trong vùng như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn là 734 triệu Mỹ kim so với hơn 50 tỷ của ba nước vừa kể trên. Nhưng qua những con số không chính thức có liên quan đến những đối tác Hồng Kông thì mức thẩm thấu vào Việt Nam có thể lên đến 3,7 tỷ. Và thương mãi hai chiều dự kiến trong năm 2008 là trên 10 tỷ Mỹ kim.
Các công ty TQ chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TC đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm tại Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TQ vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TC có thể chuyển ngành dệt sang VN để tránh vấn đề hạng ngạch (quota) trong việc xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.
Ảnh hưởng lên môi sinh Việt Nam
Gần 20 năm qua, TQ đã bắt đầu chuyển dịch các cơ sở sản xuất qua VN vì áp lực của luật ô nhiễm môi trường ở bản địa là chính. Các đầu tư di chuyển về VN cũng vì luật lệ ở TC nghiêm ngặt hơn qua việc bảo vệ môi trường ở một số khu vực tại TQ, đặc biệt ở các tỉnh ở miền duyên hải như Thượng Hải, Hong Kong, Triết Giang.
Những tỉnh nầy khuyến khích đầu tư ở Việt Nam đối với các công nghệ gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất như công nghệ thép, plastic, điện tử, hoá chất v.v... Cơ quan bảo vệ môi trường ở các tỉnh trên đã bắt đầu ngăn cấm và tước quyền sử dụng đất, nước, và điện của những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Đó cũng là một trong những lý do chính để các nhà đầu tư TC xuôi Nam, một nơi có chi phí dùng trong an toàn lao động rẻ mạt.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của TC. Tư thế của một đàn em CSVN trước một đàn anh nước lớn TC cho đến nay vẫn là một sự thuần phục hoàn toàn. Thuần phục trong tư thế chính trị, quân sự lẫn kinh tế. TC đã tạo được một sức ép quá mạnh trong ba lãnh vực trên, khiến cho Việt Nam luôn luôn đang ở thế bị động và không thể nào thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ba gọng kền trên.
Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Cộng, chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam và các quốc gia lân cận, đó là:
1 - Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn,
2 - Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới,
3 – Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất,
4 - Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy,
5 - Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội,
6 - Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau,
7 - Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Tây nguyên (Cao nguyên).
Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn:
Từ năm 2001, tên Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ.
Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như bọn đầu lãnh CSVN biện minh cho việc xây dựng nầy, vì với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không có việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ qua kinh nghiệm hai trận chiến ở Iraq và Afganistan.
Thiết nghĩ đây là con đường chiến lựơc dành cho mục đích kinh tế-chính trị, nhưng không hẳn để áp dụng cho Việt Nam vì trong suốt chiều dài của xa lộ là vùng thưa dân cư nếu không nói là hoang dã.
Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều ở miền Tây Trung Cộng ra hải ngoại. Thử hỏi, Quốc lộ I, con đường huyết mạch của Việt Nam, cần phải được nâng cấp vì nhu cầu giao thông và phát triển cho Việt Nam, nhất là từ Quảng Trị trở ra Bắc nhưng tại sao không được lưu tâm đến ?
Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền Quảng Trị và thành phố Tchepone va Sawannakhet của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TC có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông.
Về nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tuy vùng nầy không có hạ tầng cơ sở như giao thông, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và rất xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung Cộng, thay vì phải chuyển vận bằng xe từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém? Có phải, chính vì các lý do trên mà Việt Nam chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án từ ban đầu.
Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải trên 20 ngàn tấn nối liền Vân Nam (Tây Nam Trung Cộng), Thái, Lào, và Việt Nam, và giao thương với thế giới. Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Cộng; do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phảm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu.
Thiết lập xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố. Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Cộng đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe lữa dựa theo tiêu chuẩn Trung Cộng; do đó, xe lửa Việt Nam không thể sử dụng được.
Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe lửa hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác ? Đó là con đường tháo chạy an toàn cho bọn đầu lãnh CSVN hiện tại, mỗi khi có biến động lớn ở Việt Nam ?
Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đấn tháng 11-2008người Trung hoa được tự do đi lại, không cần hộ chiếu chỉ ở các tỉnh miền Bắc. Sau ngày trên, người Trung hoa có thể đi lại vào tận cao nguyên thậm chí đến tận Cà Mau không cần xin hộ chiếu.
Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho Trung Cộng để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Hiện tại, tại Sài Gòn, hoá chất bảo vệ thực vật không nhản hiệu được bày bán tự do, đủ loại thực phẩm, cây trái được bày bán ở thị trường miền Nam.
Thử hỏi, thời gian thu hoạch trong nội địa Trung Cộng, chuyển vận bằng xe từ biên giới Bắc Việt (không có máy điều hoà không khí) xuôi Nam, làm sao các thực phẩm cây trái trên vẫn còn tươi rói, thậm chí cả cuống và lá vẫn xanh tươi như vừa mới hái? Một trong những nguồn lợi chính của Đà Lạt là rau cũ, nhưng thị trường đã bị ối động vì không địch lại với hàng Trung Cộng vì giá rẻ hơn, trong khi phí tổn chuyên chở rất cao.
Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính tên Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, thậm chí có những góp ý hoàn toàn trái ngược của Võ Nguyên Giáp, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Cộng và Úc Châu.
Tất cả đểu khuyến cáo là không hiệu quả kinh tế và mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính Trung Quôc phải đóng cửa một nhà máy mới vừa khánh thành tiêu tốn trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và sức ép của luật môi trường. Chính vì vậy mà CSVN “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Cộng cung cấp.
Hiện tại (tháng 2, 2009), theo tướng Giáp, đã có trên 100 nhân viên TC hiện diện ở hai công trường nầy Theo dự tính sẽ có trên 2000 công nhân và kỹ sự TC cho công trình trên. Họ đã xây dựng lều trại, chuyển chở thiết bị và dụng cụ để khai thác quặng mõ (hay thiết bị quân sự để thăm dò vùng tài nguyên dồi dào của cao nguyên Trung phần nầy?). Ngoài ra, hiện tại còn có theo ước tính trên 100 ngàn di dân Trung Cộng đang hiện diện nơi đây.
Cùng với dự án khai thác bauxite còn hai dự án phụ góp phần vào là dự án xây dựng tuyến đường sắt nối liền Tây Nguyen và Bình Thuận và dự án xây dựng bến cảng Bình Thuận để chuyển tải alumin (giai đoạn đầu trước khi tinh luyện ra nhôm kim loại) bằng đường hoả xa và đường biển.
Do đó, dự án khai thác bauxite đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy.
Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị hủy diệt, cùng vùng đất khai thác và vùng đất chứa bùn đỏ bị hoang hoá hoàn toàn.
Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn alumin hàng năm, phải cần đền một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, tính cách khả thi của dự án không cao, nếu không nói là bất khả thi.
Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bõ dùi hay không? Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc khai thác nhôm? Sự hiện diện của công nhân, chuyên viên, kỹ sư Trung Cộng ở vùng Cao nguyên, xương sống của Việt Nam, nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước, có thể là một nhân tố chính trị-quânsự- kinh tế để Trung Cộng có thêm điều kiện để khống chế Việt Nam ?
Nhu cầu nhôm của Việt Nam hàng năm vào khoảng 100 đến 150 ngàn tấn dễ dàng được nhập cảng từ Úc châu. Thử hỏi với lượng sản xuất hàng triệu tấn dùng để xuất cảng sang Trung Cộng mà thôi, do đó, càng thêm bị lệ thuộc vào quốc gia nầy, và dễ dàng bị khuynh đão cũng như áp lực của Trung Cộng.
Nếu tổng hợp bảy mắc xích trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự-kinh tế-chính trị. Nhưng sự phối hợp đó có thể chỉ để phục vụ cho nhu cầu của đàn anh nước lớn để:
Chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Cộng sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế. Sản phẩm nhập cảng chiến lược của Trung Quốc là dầu khí, và Dung Quất sẽ là nguồn cung cấp quan trọng cho vùng nầy. Và biết bao lợi ích khác nữa cho Trung Cộng cả về kinh tế lẫn quân sự và chính trị.
Nếu dự kiến cảnh tượng trên đây là một sự thật thì đây sẽ không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.
Xuyên qua bảy cản ngại đã phân tích ở phần trên để lý giải cho việc phát triển không đồng bộ đưa đến tình trạng bế tắc hiện tại của Việt Nam trong vấn đề hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới, CSVN đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, do đó không còn đủ sức quán tính mạnh để vượt ra khỏi rào cản thần phục và xin-cho, để rồi cuối cùng giải pháp thần phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn nhất cho công cuộc bảo vệ quyền lực.
Từ những lý do đó, làm sao CSVN có thể đem lại niềm tin cho người dân được. Biết đến bao giờ thái độ thần phục của CSVN được chấm dứt để cho người dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân của mình. Lịch sử Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi lại những trang sử đen tối của dân tộc trong giai đoạn nầy.
Thay lời kết
Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Cộng và lý tính thuần phục của CSVN hiện tại.
Đất Nước là Đất Nước của chung, của cả dân tộc. Từ người lãnh đạo quản lý Đất Nước cho đến người dân cùng đinh trong xã hội cần phải được dự phần và chia xẻ trách nhiệm đối với Đất Nước.
Ở các quốc gia tiến bộ và phát triển, người có quyền hạn càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Một tai nạn xe lữa hay máy bay có thể khiến cho ông/bà Bộ trưởng Giao thông phải nhận lãnh trách nhiệm và từ chức. Huống chi trong việc quản lý một Đất Nước.
Ðảng CSVN từ bao năm nay, đưa ra biết bao chính sách, kế hoạch... bị phá sản mà nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để có điều kiện đề ra những chính sách phá sản khác! Đó là một trong nhiều nghịch lý làm trì trệ sự tiến hóa và phát triển của Dân tộc.
Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản Việt Nam đều do cộng sản TC điều khiển từ xa; CSVN hoàn toàn không còn khả năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý” của Trung Quốc. Qua việc đàn áp người dân trong nước trong khi biểu tình chống TQ lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như qua việc Việt Nam để công an TQ đàn áp người dân trong khi biểu tình chống việc rước đuốc thế vận vừa qua đủ để nói lên tính nô lệ TQ của nhà cầm quyền cộng sản Viêt Nam hiện tại.
Hiện tại, nội bộ đảng cộng sản Việt Nam đang có nhiều rạn nứt trầm trọng, và rạn nứt nầy có thể làm cho đảng cộng sản tan rã trong tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải chờ đợi trong thụ động mà cả người Việt trong nước hay tại hải ngoại cần phải thúc đẩy càng mạnh thêm để tiến trình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam diễn ra càng nhanh hơn nữa.
“Quan hệ” hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây được ca ngợi bằng 16 chữ vàng: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” đã được người dân Hà Nội đổi lại một cách mỉa mai là:”Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tín tương lai”.
Sách Lịch sử Việt Nam của Cụ Trần Trọng Kim có ghi là Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trải qua bốn lần bị Bắc thuộc. Ngày hôm nay, có thể được ghi thêm là Bắc thuộc lần thứ năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 và kết thúc vào ngày … Ngày đó sẽ do tất cả người Việt trong và ngoài nước quyết định.
Mai Thanh Truyết
Bá Vương Cổ Ðiển Của Bắc Kinh
Bá Vương Cổ Ðiển Của Bắc Kinh.
Trung Cộng đã thử nghiệm gân cốt CS Hà Nội trong các cuộc chiến năm 1984, rồi 1988, rồi hàng loạt những vụ đụng độ đầy khiêu khích ở ngoài khơi trong các năm 1992, thậm chí 1999, 2001, 2003, 2005...
Theo đúng thuật bá vương cổ điển của văn hoá Trung Hoa, Bắc Kinh tiếp tục xây dựng vùng trái độn ở các khu vực phiên trấn phía Tây, phía Bắc, trong khi lùa đàn con trẻ ở cõi Ba Đình Hà Nội vào thế chư hầu tại phía Nam. Nhìn lại địa dư và lịch sử Trung Cộng, nơi duy nhất mà các đấng con trời có thể đưa quân tấn công không phải là Mãn Châu, Ngoại Mông, Tân Cương hay Hy Mã Lạp Sơn qua ngả Tây Tạng. Nơi duy nhất là Bắc Việt!
Nay cũng là nơi mềm nhất của phép "mềm nắn rắn buông"!
Mềm vì lãnh đạo hèn, chứ không vì người dân muốn cúi đầu chịu thua.
Xưa nay, trong lịch sử giao tranh giữa hai nước, Lạng Sơn vẫn là mồ chôn giặc, Chi Lăng là nơi quân ta chém tướng. Và sau mỗi đợt xâm lăng thì các tỉnh Bắc phương không còn nghe tiếng gà gáy vì địch quân bị ta rượt theo đánh cho tan tác trên mấy trăm cấy số ở bên kia biên giới. Trong trận chiến 1979 thì khác. Khi Trung Cộng bị tổn thất nặng và ra lệnh rút quân thì CS Hà Nội vội ra lệnh đình chiến tại chỗ. Nhờ vậy mà "Giải phóng quân" của Trung Cộng dù ở thế rút chạy, vẫn chiếm được nhiều khu vực, kể cả Nam Quan, Bản Giốc.
Trong một đợt giao tranh về sau, Trung đoàn 982 của Sư đoàn 313 đã hy sinh mấy ngàn binh sĩ để chiếm lại đỉnh 1509 (núi Đất) thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh của tỉnh Hà Giang. Ngay sau đó, CS Hà Nội đã ra lệnh rút, để nhường lại cho giặc!
Chỗ mềm nhất của CSVN chính là cái đầu và bao hy sinh xương máu của dân và quân đều bị chính lãnh đạo phản bội.
Sau khi bị xuất huyết nội tại Cambốt trong 10 năm chiếm đóng, từ năm 1989 CS Hà Nội bắt đầu cải thiện bang giao với Bắc Kinh, nhưng trong thế yếu. Và ngày càng yếu nếu so sánh với Bắc Kinh vì đàn anh Liên Xô đã phá sản, bức tường Bá Linh đã sụp đổ - hai chục năm rồi đấy! - rồi khối Xô Viết tan thành mảnh vụn.
Để tồn tại, đảng Cộng sản Việt Nam bèn học theo truyền thống Bắc thuộc cũ, là làm gì thì cũng nghe ngóng và hỏi han Bắc Kinh. Rồi từng bước nhượng dần những biểu tượng của danh dự tổ quốc, từ mục Nam Quan tới thác Bản Giốc hay bãi Tục Lãm. Họ sẵn sàng hy sinh danh dự, nhưng quyền lợi ngàn đời của quốc gia, là các quần đảo Hoàng Sa rồi Trường Sa và luồng vận chuyển tự do qua eo biển Malacca của Đông Nam Á, họ cũng hy sinh luôn!
Trong vụ Trung Cộng tấn công các tỉnh miền Bắc vào năm 1979, bộ Chính trị CSVN đã lật đật trốn vào Đà Nẵng để trú ẩn và còn huy động dân chúng miền Nam vét bùn xây đài phỏng thủ ở các tỉnh trong Nam. Bây giờ, khi dân chúng biểu tình chống lại sự xâm lược của Bá quyền Trung Cộng thì Bắc Kinh chưa nhúc nhích đã thấy CS Hà Nội ra tay trấn áp.
Sau khi trốn vào Đà Nẵng, lần này CS Hà Nội lại tấn công thẳng vào Đà Nẵng với việc "đình chỉ hoạt động" của Nhà Xuất Bản Đà Nẵng vì một cuốn truyện viết về cuộc chiến Hoa-Việt vào năm 1979!
Ngẫu nhiên sao, Đà Nẵng cũng là nơi đã quyết định tổ chức bầu cử Hội đồng Nhân dân sau khi CS Hà Nội đã ra lệnh hủy bỏ chuyện bầu cử địa phương như vậy!.... Nơi xuất huyết của CS Hà Nội. Người dân ở đây có ý thức rất cao về sự an toàn của tổ quốc và lãnh thổ...
Kết cuộc, 30 năm sau, chúng ta đang thấy gì?
Dân muốn đánh mà đảng CSVN muốn hàng, thành thử, cuộc chiến ba mươi năm chưa kết thúc và CS Hà Nội cứ lui dần, chuyển bại thành liệt. Muốn bảo vệ Tổ quốc, người Việt Nam trước hết phải chấm dứt sự cai trị của bọn bán đứng Tổ quốc, phản bội dân tộc.
Nhắc lại chuyện ba mươi năm trước vì vậy không thừa. Trong Nam ngoài Bắc, trong nước và hải ngoại, nơi nào cũng có người Việt hẳn chưa quên được chuyện bán nước cầu vinh của CSVN.
Thành Chung
Trung Cộng đã thử nghiệm gân cốt CS Hà Nội trong các cuộc chiến năm 1984, rồi 1988, rồi hàng loạt những vụ đụng độ đầy khiêu khích ở ngoài khơi trong các năm 1992, thậm chí 1999, 2001, 2003, 2005...
Theo đúng thuật bá vương cổ điển của văn hoá Trung Hoa, Bắc Kinh tiếp tục xây dựng vùng trái độn ở các khu vực phiên trấn phía Tây, phía Bắc, trong khi lùa đàn con trẻ ở cõi Ba Đình Hà Nội vào thế chư hầu tại phía Nam. Nhìn lại địa dư và lịch sử Trung Cộng, nơi duy nhất mà các đấng con trời có thể đưa quân tấn công không phải là Mãn Châu, Ngoại Mông, Tân Cương hay Hy Mã Lạp Sơn qua ngả Tây Tạng. Nơi duy nhất là Bắc Việt!
Nay cũng là nơi mềm nhất của phép "mềm nắn rắn buông"!
Mềm vì lãnh đạo hèn, chứ không vì người dân muốn cúi đầu chịu thua.
Xưa nay, trong lịch sử giao tranh giữa hai nước, Lạng Sơn vẫn là mồ chôn giặc, Chi Lăng là nơi quân ta chém tướng. Và sau mỗi đợt xâm lăng thì các tỉnh Bắc phương không còn nghe tiếng gà gáy vì địch quân bị ta rượt theo đánh cho tan tác trên mấy trăm cấy số ở bên kia biên giới. Trong trận chiến 1979 thì khác. Khi Trung Cộng bị tổn thất nặng và ra lệnh rút quân thì CS Hà Nội vội ra lệnh đình chiến tại chỗ. Nhờ vậy mà "Giải phóng quân" của Trung Cộng dù ở thế rút chạy, vẫn chiếm được nhiều khu vực, kể cả Nam Quan, Bản Giốc.
Trong một đợt giao tranh về sau, Trung đoàn 982 của Sư đoàn 313 đã hy sinh mấy ngàn binh sĩ để chiếm lại đỉnh 1509 (núi Đất) thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh của tỉnh Hà Giang. Ngay sau đó, CS Hà Nội đã ra lệnh rút, để nhường lại cho giặc!
Chỗ mềm nhất của CSVN chính là cái đầu và bao hy sinh xương máu của dân và quân đều bị chính lãnh đạo phản bội.
Sau khi bị xuất huyết nội tại Cambốt trong 10 năm chiếm đóng, từ năm 1989 CS Hà Nội bắt đầu cải thiện bang giao với Bắc Kinh, nhưng trong thế yếu. Và ngày càng yếu nếu so sánh với Bắc Kinh vì đàn anh Liên Xô đã phá sản, bức tường Bá Linh đã sụp đổ - hai chục năm rồi đấy! - rồi khối Xô Viết tan thành mảnh vụn.
Để tồn tại, đảng Cộng sản Việt Nam bèn học theo truyền thống Bắc thuộc cũ, là làm gì thì cũng nghe ngóng và hỏi han Bắc Kinh. Rồi từng bước nhượng dần những biểu tượng của danh dự tổ quốc, từ mục Nam Quan tới thác Bản Giốc hay bãi Tục Lãm. Họ sẵn sàng hy sinh danh dự, nhưng quyền lợi ngàn đời của quốc gia, là các quần đảo Hoàng Sa rồi Trường Sa và luồng vận chuyển tự do qua eo biển Malacca của Đông Nam Á, họ cũng hy sinh luôn!
Trong vụ Trung Cộng tấn công các tỉnh miền Bắc vào năm 1979, bộ Chính trị CSVN đã lật đật trốn vào Đà Nẵng để trú ẩn và còn huy động dân chúng miền Nam vét bùn xây đài phỏng thủ ở các tỉnh trong Nam. Bây giờ, khi dân chúng biểu tình chống lại sự xâm lược của Bá quyền Trung Cộng thì Bắc Kinh chưa nhúc nhích đã thấy CS Hà Nội ra tay trấn áp.
Sau khi trốn vào Đà Nẵng, lần này CS Hà Nội lại tấn công thẳng vào Đà Nẵng với việc "đình chỉ hoạt động" của Nhà Xuất Bản Đà Nẵng vì một cuốn truyện viết về cuộc chiến Hoa-Việt vào năm 1979!
Ngẫu nhiên sao, Đà Nẵng cũng là nơi đã quyết định tổ chức bầu cử Hội đồng Nhân dân sau khi CS Hà Nội đã ra lệnh hủy bỏ chuyện bầu cử địa phương như vậy!.... Nơi xuất huyết của CS Hà Nội. Người dân ở đây có ý thức rất cao về sự an toàn của tổ quốc và lãnh thổ...
Kết cuộc, 30 năm sau, chúng ta đang thấy gì?
Dân muốn đánh mà đảng CSVN muốn hàng, thành thử, cuộc chiến ba mươi năm chưa kết thúc và CS Hà Nội cứ lui dần, chuyển bại thành liệt. Muốn bảo vệ Tổ quốc, người Việt Nam trước hết phải chấm dứt sự cai trị của bọn bán đứng Tổ quốc, phản bội dân tộc.
Nhắc lại chuyện ba mươi năm trước vì vậy không thừa. Trong Nam ngoài Bắc, trong nước và hải ngoại, nơi nào cũng có người Việt hẳn chưa quên được chuyện bán nước cầu vinh của CSVN.
Thành Chung
Abonner på:
Innlegg (Atom)
