torsdag 14. februar 2013

Tê Nhức Chân Tay

 

Tê nhức chân tay là triệu chứng phổ biến, xuất hiện ở nhiều đối tượng, từ người già đến người trẻ và gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt hằng ngày. Bệnh thường do nhiều nguyên nhân khác nhau, có khi là biểu hiện sinh lý bình thường của cơ thể và không cần điều trị, nhưng đa phần là dấu hiệu của nhiều chứng bệnh khác nhau, từ bệnh lành tính dễ điều trị đến bệnh phức tạp, nguy hiểm đến tính mạng.

Thông thường, tê nhức chân tay khởi phát rất nhẹ nhàng như tê các đầu ngón tay, cảm giác như châm chích, kiến bò, rất khó chịu. Càng về sau, mức độ tê đau càng tăng. Các ngón tay bị tê nhức, tê buốt nhiều hơn và đau lan dọc cánh tay, cẳng tay gây khó cử động và cầm nắm. Những triệu chứng này có thể xuất hiện tương tự ở các ngón chân, bàn chân, cổ chân, cẳng chân, đùi, mông, vùng thắt lưng.

Theo Tây Y, tê nhức chân tay là hậu quả của nhiều chứng bệnh như thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, hội chứng viêm ống cổ tay gây chèn ép và tổn thương mạch máu và dây thần kinh. Ngoài ra, những bệnh rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, cao mỡ máu, xơ vữa động mạch, béo phì, thiếu vitamin và khoáng chất cũng dễ gây tê nhức chân tay. 

 

Y học cổ truyền, tê nhức chân tay hay còn gọi là tê bì (ma mộc) với các triệu chứng rối loạn cảm giác ở tay, chân và chia thành 2 mức độ. Tê (ma) là hiện tượng da bị tê rần nhưng vẫn cảm nhận được kích thích và có thể sinh hoạt bình thường. Bì (mộc) là giai đoạn sau của tê, khi đó tay chân mất hết cảm giác, tê bại hoàn toàn. Người bệnh không còn cảm nhận được kích thích, khó cử động và có thể bị liệt cơ, teo cơ.

Tê nhức chân tay thường gặp khi sức khỏe giảm sút, sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm nên dễ bị tác động bởi gió (phong), lạnh (hàn), ẩm thấp (thấp) khiến kinh mạch bị ứ trệ, khí huyết kém lưu thông, gây nên các triệu chứng tê mỏi, chân tay lạnh, tê buốt, co mỏi, các khớp đau nhức, vai gáy và lưng gối đau mỏi.

Hiện nay, phương pháp điều trị tê nhức chân tay đã có nhiều tiến bộ và lựa chọn. Điều trị tê nhức chân tay cần kết hợp Đông Y và Tây Y. Khi bị đau cấp tính, người bệnh nên ưu tiên dùng thuốc Tân Dược để giảm đau ngay nhưng cũng không nên lạm dụng thuốc giảm đau trong thời gian dài do tác dụng phụ của chúng, nhất là trên đường tiêu hóa cũng như gan, thận. Về lâu dài, người bệnh nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc Đông Y do tính an toàn, cũng như hiệu quả điều trị cao. Một trong những sản phẩm điển hình trong việc điều trị tê nhức chân tay là: Tê Nhức Chân Tay hiệu Bảo Nguyên.



Tê Nhức Chân Tay hiệu Bảo Nguyên được kế thừa từ các bài thuốc y học cổ truyền, giúp hỗ trợ điều trị tê nhức chân tay và đau nhức xương khớp. Được bào chế từ các thảo dược, tê nhức chân tay hiệu Bảo Nguyên giúp tăng cường lưu thông khí huyết và thông kinh mạch, trừ phong thấp, từ đó trị các triệu chứng tê mỏi, chân tay lạnh, tê bì, tê cứng, tê buốt, co mỏi, các khớp xương đau nhức, vai gáy và lưng gối đau mỏi.

Ngọc Bích.

 

mandag 11. februar 2013

Xuân Quý Tỵ - Xuân Hy Vọng


Mùa Xuân là thời điểm khởi đầu cho một chu kỳ mới, với hy vọng có những sự kiện may mắn, tốt đẹp hơn so với giai đoạn vừa qua. Đối với dân tộc Việt, Xuân Quý Tỵ sẽ đem lại những hy vọng gì ? 

Mùa Xuân hàm chứa sự đổi thay, từ cái lạnh giá, trơ trụi của mùa Đông, chuyển qua một chu kỳ tuần hoàn mới với nắng ấm chan hoà, lá hoa tươi nở. Sự chuyển đổi này biểu hiện niềm hy vọng một vận hội mới mẻ và tốt đẹp đang đón chờ.

Đất nước Việt Nam bước vào Xuân Quý Tỵ cũng chứa chan hy vọng về một tương lai xán lạn không xa. Hy vọng vì sau những tháng ngày tăm tối, giai đoạn trước mặt đang loé lên một số tia nắng có khả năng lan tỏa, xuyên thủng màn đêm đã phủ trọn đất nước suốt thời gian nhiều thập kỷ. Và cũng hy vọng vì đó đây đã có một số mồi lửa hàm chứa tiềm lực chế ngự, đẩy lùi sự rét buốt, giá lạnh đang bao trùm đất nước bao năm qua.

Tia nắng đó chính là sự chuyển mình của giới trí thức – vốn im lìm trong một thời gian dài, tưởng chừng như đã mai một, không còn hiện hữu trong lòng dân tộc. Sự chuyển mình phát xuất từ nhiều nguyên nhân, nhưng chính yếu vẫn là nhận thức về cái thiện và cái ác. Cái ác đây chính là sự sai hỏng từ căn bản của Đảng CSVN. Mặc dù cái ác đã được cải trang, tô vẽ để che dấu bản chất thực sự, nhưng trong bối cảnh của thế kỷ 21, sự dối gạt không thể tồn tại. Và khi sự thật đã phơi bày thì chỉ trong chốc lát nó đã được loan truyền, quảng bá xâu rộng! Khi cái ác đã hiển hiện nguyên hình thì lương tâm của kẻ sĩ thôi thúc họ phải vượt lên nỗi sợ để phản đối cái ác, suy tôn điều thiện.

Và mồi lửa đó chính sự vùng dậy của tuổi trẻ Việt Nam trước thái độ và hành động "hèn với giặc, ác với dân" của tập đoàn lãnh đạo đất nước. Sự vùng dậy này được thúc đẩy bởi nhiệt tình hăng say và tâm nguyện trong sáng của tuổi trẻ, hoàn toàn không vì mưu cầu danh lợi, bổng lộc. Vì vậy nó có khả năng đánh động, thôi thúc sự vùng dậy của các thành phần khác trong xã hội. Trong bối cảnh ngày nay, với kiến thức kỹ thuật tân tiến, lực lượng thanh niên có khả năng phá vỡ mọi bức tường ngăn chận thông tin của tập đoàn thống trị khiến cơn bào lửa khi đã được khởi phát sẽ bùng cao và lan rộng nhanh chóng!

Nhưng không phải chỉ có sự trỗi dậy của tuổi trẻ và sự chuyển mình của trí thức là yếu tố duy nhất tạo nên niềm hy vọng của mùa Xuân Quý Tỵ.

Sự phẫn nộ của những nông dân bị cướp mất ruộng vườn cũng là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc phá vỡ guồng máy thống trị. Phong trào dân oan ngày nay hiện hữu ở mọi miền đất nước. Và đã có những hành động bằng vũ lực, người dân đem mạng sống của mình để bảo vệ ruộng vườn do mồ hôi nước mắt tảo tần gầy dựng, nay bị thành phần cai trị chiếm đọat. Đã có những cuộc xuống đường tập thể để ngăn chận bè lũ tham quan sai áp nhà cửa, ruộng vườn.

Quan trọng không kém là sự thức tỉnh của thành phần đảng viên, bộ đội. Đây là những người đã xả thân cho Đảng hoặc vì họ đã sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ nên không có sự lựa chọn nào khác hoặc vì họ đã bị dối gạt, phỉnh dụ, nhồi sọ nên tin tưởng đây là guồng máy phục vụ cho dân, cho nước. Nhưng rồi thực tế đã phơi bày rõ cái bản chất phản dân hại nước, nhất là khi Đảng đã chiếm toàn bộ đất nước, chuyển từ vai trò đấu tranh giành quyền qua vị trí thống trị và hưởng thụ. Có thể nói đây là thành phần bị phản bội một cách đau đớn nhất, vì trước đây họ đã hy sinh tính mạng và tài sản để đảng có được ví trí thống trị như hôm nay!

Thành phần này khá đông đảo và đã hay đang giữ một số chức vụ quan trọng. Sở dĩ một số đông chưa tỏ thái độ và chưa bắt tay hành động, vì hơn ai hết, họ biết rõ khả năng và thủ đoạn của tập đoàn đang nắm quyền thống trị. Họ đang mai phục, và khi ngòi nổ phát nổ, đây là chính là khối thuốc súng có khả năng giật sập toàn bộ guồng máy thống trị nhanh chóng và hữu hiệu vì biết rõ cách thức vận hành của guồng máy này.
Một lực lượng quan trọng khác là cộng đồng người Việt tỵ nạn CS sinh sống khắp nơi trên thế giới. Quá trình đấu tranh của thành phần này khởi đi từ ngay sau khi Đảng CS cưỡng chiếm miền Nam bằng vũ lực gần 40 năm trước. Khác với sự tuyên truyền phỉnh gạt của CSVN, mục tiêu tranh đấu của lực lượng này hoàn toàn không phải để "trả thù, rửa hận", hoặc trở lại với quá khứ. Trái lại họ tranh đấu cho một tương lai tuơi sáng, trong đó đất nước có được tầm cao xứng đáng với chiều dài lịch sử.

Chính vì nhận thức như vậy mà công cuộc đấu tranh của cộng đồng người Việt hải ngoại ngày càng tăng cao, mở rộng, lớp lớn tuổi chậm bước thì thành phần trẻ lên thay. Và vì có điều kiện nhìn rõ, học hỏi và thu thập các kiến thức, kinh nghiệm của xã hội văn minh, tân tiến, nên lực lượng này không chỉ góp phần khôi phục tự do, dân chủ cho đất nước mà còn khả năng đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng đất nước, cũng như công cuộc bảo vệ bờ cõi trong tương lai khi chế độ độc tài toàn trị cáo chung.

Còn biết bao yếu tố khác làm tăng thêm niềm hy vọng trong mùa xuân Quý Tỵ! Có thể nói, trước thực trạng của đất nước, chỉ có thiểu số hưởng lợi lộc là còn bám víu vào Đảng, còn hầu hết các thành phần dân tộc, các tầng lớp dân chúng khác đều đã quá chán ngán với sự thống trị của Đảng CSVN. Từ các tôn giáo, công nhân, lao động, đến các sác tộc, ai cũng đều nhận thấy sự thống trị này ngày càng đưa đất nước tới bờ vực thẳm, vực thẳm của nghèo đói, của huỷ hoại văn hoá, và của hiểm hoạ bị Bắc thuộc.

Với niềm hy vọng đó, Xuân Quý Tỵ sẽ là thời điểm báo khởi đầu cho sự cáo chung nhanh chóng của chế độ độc tài CSVN, để từ đó toàn dân, trong và ngoài nước, đồng tâm hiệp lực xây dựng đất nước và bảo vệ bờ cõi./.

Hải Nguyên.

NGÀY TẾT TRONG TÂM THỨC VIỆT


 
Trong những lễ hội dân gian, người Việt xem trọng nhất là Tết. Tết là phong tục truyền thống của người Việt từ xa xưa cho đến ngày nay. Dân gian vẫn thường phân biệt là Tết ta và Tết Tây chứ không ai nói là tết Tàu vì chỉ dân tộc Việt Nam mới có chữ “TẾT” mà thôi, Hán ngữ không có chữ tết nên Tết là của Việt Nam chứ không phải của Tàu. Thật vậy, trong Kinh Lễ viết Tế-Sạ. Tết mà Khổng Tử, người thầy muôn đời của người Trung Quốc đã giải thích với học trò:"Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là "Tế-Sạ". Điều này chứng tỏ rằng người Trung Quốc không có tết và Kinh Lễ là của người Việt cổ nên tên gọi tết cổ của người Thái là chi Âu Việt trong Bách Việt cũng gọi Tết là Thê-Sa.
 
Tết là ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền Đông Nam Á. Ngày nay, các công trình nghiên cứu đã xác định cư dân Đông Nam Á cùng chung chỉ số sọ, cùng một mã di truyền DNA, nên là những chi tộc Việt trong Bách Việt. Chính vì vậy, tất cả đều ăn tết, chữ tết cùng một nguồn gốc với chữ Tết của Việt tộc. Đồng bào Nùng cũng đọc là tết (nèn tết=năm tết), đồng bào Mường cũng ăn “Thêt”= ăn tết như đồng bào Việt, đồng bào Thái thì có lễ mừng năm mới gọi là Thêts. Thêts khal là mùa tết, những ngày tết, khal text là ngày tết. Đồng bào Chàm cũng có tết mà họ gọi là “Tít” vào lễ tháng năm của lịch Chàm cổ, “băng tít” là ăn tết, kTêh là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chàm. Người Mon cũng ăn tết mà họ gọi là Ktêk. Người Khmer cũng có lễ hội “Chêtr” là Tết mừng tháng 5 theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm. Ấn Độ cũng có chữ “Chetr” để chỉ tên tháng tư và tháng năm là 2 tháng giao mùa từ mùa nắng sang mùa mưa trong lịch Ấn Độ cổ. Đặc biệt ở Népal cũng ăn tết trong “Lễ đầu năm” cổ truyền của người Népal và người Munda cũng có lễ ăn mừng mùa mưa đến gọi là “Teej”* như các quốc gia nông nghiệp trong Bách Việt.
 
Đặc biệt, truyền thuyết dưới dạng truyện cổ tích Việt Nam về lễ Tết lưu truyền trong dân gian từ bao đời nay gắn liền với ý niệm cha Trời, mẹ Đất. Ý niệm về Đất Trời được thể hiện qua hình tượng Bánh Chưng bánh dày ngay từ thời vua Hùng thứ tám (Sách sử xưa viết là vua Hùng thứ sáu vì không kể Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, chỉ tính từ vua Hùng thứ nhất. Thực ra phải nói là vua Hùng thứ tám mới đúng theo quốc phổ ghi trong Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư và phù hợp với niên đại lịch sử. Truyện kể rằng, vua Hùng thứ tám sau khì nhờ Phù Đổng Thiên Vương “Cậu bé nhà Trời” phá tan giặc Ân đã chọn người con thứ 9 là Lang Liêu để truyền ngôi. Tương truyền trong khi 21 người anh em đi tìm sơn hào hải vị để đến tết dâng lên vua cha cúng tiên vương cho tròn đạo hiếu thì Lang Liêu do mẹ mất sớm, gia đình nghèo nên chỉ biết dâng lên vua cha cặp bánh chưng hình vuông và bánh dầy hình tròn. Lang Liêu là người con hiếu thảo, biết thương người đang buồn rầu lo nghĩ rồi tủi thân vì mẹ mất sớm nên không ai phụ giúp nên “Thần nhân” hiện ra mách bảo Lang Liêu rằng: “Trong trời đất, không vật gì quý hơn gạo vì gạo là để nuôi dân, người ta ăn mãi không bao giờ chán. Nếu con lấy gạo nếp nấu sôi lên rồi đem quệt cho thật nhuyễn, nặn thành hình tròn để tượng trưng cho trời gọi là bánh dầy. Lấy gạo nếp trắng tinh đem vo sạch, cho nhân thịt và đậu xanh vào giữa rồi lấy lá dong xanh gói rồi đem nấu chín gọi là bánh chưng”. Vua Hùng thấy Lang Liêu là người biết tri ân Trời Đất, ông bà Tiên tổ, lại biết thương yêu đồng bào nên chọn chàng lên ngôi kế vị vua cha. Từ đó, dân gian Việt có tập tục là đến ngày lễ tết thì làm bánh dầy cúng trời đất, gói bánh chưng để cúng ông bà tiên tổ. Ý niệm vuông tròn biểu trưng cho trời đất và sự hoàn thiện, tuyệt mỹ nên dân gian thường chúc nhau “Mẹ tròn con vuông” mỗi khi sinh đẻ. Tinh hoa của minh triết Việt chỉ ra rằng cuộc sống phải hội đủ 2 yếu tố Âm dương mới đầy đủ viên mãn. Đó chính là “Đạo” vì phải có cả âm dương mới là đạo. Đạo Trời, đạo Đất và cũng chính là đạo người (nhất âm nhất dương chi vị đạo).
 
Trong văn học thường viết Tết gắn liền với chữ Nguyên Đán là Tết Nguyên Đán. Truyền thuyết xa xưa kể lại rằng Đế Chuyên Húc, ông vua Việt cổ thời cổ đại gọi tháng giêng là NGUYÊN, gọi mồng một là ĐÁN rồi ghép lại là Nguyên Đán tức mồng một tháng giêng. Tầm nguyên ngữ nghĩa của hai chữ Nguyên Đán sẽ cho ta thấy rõ hơn ý nghĩa và tầm quan trọng của Tết Nguyên Đán. Nguyên là mới bắt đầu, Đán là một chữ tượng hình, ở bên trên là chữ nhật chỉ mặt trời, bên dưới là chữ nhất thay cho mặt bằng phẳng khiến chúng ta liên tưởng mặt trời từ từ lên cao, tượng trưng cho một ngày mới bắt đầu. Nguyên Đán là ngày đầu năm đầu tháng giêng Âm lịch. Do đó, Tết Nguyên Đán là ngày đầu tiên của tiết đầu của một năm mới.
 
Từ thời cổ đại cho tới Nhà Hạ vẫn lấy ngày mồng một tháng giêng là ngày Tết của người Việt cổ. Nhà Hạ ăn tết nhằm cung dần, dựa theo nông lịch tức tiết đầu xuân lúc khởi đầu có sấm. Khi tộc Thương (Hán tộc) đánh đuổi Nhà Hạ (Việt tộc) khỏi Hoa Bắc thì Hán tộc chọn ngày 1 tháng 12 âm lịch là Tết Nguyên Đán, đến triều Chu chọn ngày 1 tháng 11 âm lịch, triều Tần chọn ngày 1 tháng 10 âm lịch cho cả Trung Quốc. Mãi đến thời Hán Vũ Đế chịu ảnh hưởng của văn hoá Bách Việt phương Nam nên chọn lại ngày 1 tháng giêng là Tết Nguyên Đán. Ngày nay, Trung Quốc lại chọn ngày 1 tháng 1 Dương lịch tức Tết Dương lịch của Tây phương làm ngày Tết Nguyên Đán nhưng dân gian phần lớn là người gốc Việt cổ vẫn “Ăn Tết” vào ngày mồng 1 tháng giêng. Duy chỉ có dân tộc Việt Nam trước sau như một vẫn bảo lưu truyền thống “Nông lịch” của người Việt cổ lấy ngày mồng một tháng giêng Âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Dương lịch 1 tháng 1 Dương lịch là Tết Tây.
 
Đối với người Việt, cái Tết có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống. Thật vậy, ngoài cái giờ phút thiêng liêng chuyển đổi của đất trời qua “Giao thừa” sang năm mới, mọi người trong gia đình mỗi người đều mang một tâm trạng riêng, nhớ tới những người thân đã khuất còn hiển hiện quanh đây, trong không khí ấm cúng của gia đình đêm ba mươi tết. Trên bàn thờ với đĩa ngũ quả khói hương nghi ngút, đan quyện linh hồn những người đã khuất với kẻ còn sống đang tưởng nhớ tới họ. Tết nhất cũng là dịp gia đình đoàn tụ xum vầy, cháu con dù đi làm ăn xa đến đâu nếu có phương tiện vẫn trở về mái ấm gia đình, để hàn huyên tâm sự chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống.
 
Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng chạp (tháng 12 ÂL), ai cũng nao nao trong lòng về ngày Tết sắp đến. Qua ngày hai mươi là Tết đến nơi rồi, không biết năm nay những người thân xa quê hương ai sẽ về đón Tết, ăn Tết với gia đình? Để chuẩn bị vui đón cái tết đúng ý nghĩa của nó, gia đình nào cũng phải trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ Gia Tiên với đĩa “Ngũ quả” gồm 5 loại trái cây là trái sung, trái mãng cầu, trái dừa, đu đủ, xoài nói lên ước vọng tâm tư dân dã miền Nam. Cầu (mãng cầu) trời khấn phật cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (Xoài). Người Việt miền Bắc thì trong đĩa ngũ quả phải có một chùm quả Sung ước mong sự sung túc cho gia đình.
“ Mỗi năm hoa Đào nở,
lại thấy ông Đồ già ..
Nghiên mực tàu giấy đỏ,
bên phố đông người qua…
 
Ngày xưa dân gian thường nhờ ông Đồ viết đôi câu đối để chúc tụng, cầu mong tài lộc hạnh phúc theo ý của mỗi người: “Hoa tay thảo những nét, Như Phượng múa Rồng bay”. Năm nay “Đào lại nở” nhưng ít thấy ông Đồ xưa nên chúng ta phải nhờ mấy “ông Thư pháp trẻ” viết vài chữ, vài câu gọi là mừng xuân. Giới trẻ thì trước tết đã rủ nhau đến hiệu sách chọn mua thiệp Xuân để gửi chúc tết đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp với những lời chúc mừng nhân dịp Xuân về.
 
Ngày 23 tháng chạp là ngày ông Táo lên trời. Đêm giao thừa 30 tháng chạp, ông Táo lại trở về trần gian với gia đình vào thời điểm “năm cùng tháng tận” mang lại hy vọng cho gia chủ sang năm làm ăn may mắn phát tài phát lộc. Vào dịp cuối năm, gia đình nào cũng lo sơn quét nhà của đón Tết nhưng cũng không quên ra thăm viếng sửa sang sơn quét những ngôi mộ của người thân, đó chính là lúc tâm hồn người ta chùng xuống chạnh nhớ ông bà cha mẹ, nhớ những ngày tháng đã qua trong cuộc đời trong tâm thức mỗi con người. Lễ Tết còn thể hiện tình bà con nghĩa làng nước, gia đình này bàn với gia đình kia mổ chung một con heo, nấu chung nồi bánh chưng, bánh tét để được ngồi bên nhau canh nồi bánh kể chuyện râm ran cả một quá khứ tuổi thơ hiện về ngập tràn tâm tưởng.
 
Trước Tết nhà nào cũng lo đi sắm Tết, mua cho con trẻ bộ áo mới để mặc tết. Đúng giờ Giao thừa, gia đình đứng trước bàn thờ gia tiên để khấn vái ông bà Tiên Tổ phù hộ cho mọi người. Trong không khí trang trọng đặc biệt của ngày Tết, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, con cháu lần lượt chúc tuổi các bậc trưởng thượng ông bà cha mẹ được sống lâu trăm tuổi, rồi ông bà cha mẹ lại mừng tuổi cho con cháu mau khôn lớn, học hành thành đạt … Sau đó, gia đình anh chị em rủ nhau đến chùa lễ Phật hoặc đến nhà thờ nhưng không quên tập tục dân gian xưa là bẻ một cành cây có lá non gọi là “Hái lộc” mới đem về nhà cho sang năm gia đình được nhiều may mắn, tài lộc.
 
Truyền thống dân gian Việt là “Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy” đã nói lên đạo hiếu của bổn phận làm con và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của người Việt. Ngày mồng một tết, sau khi chúc tuổi thọ cha mẹ, dân gian còn phải đến chúc tết các bậc trưởng thượng trong dòng họ rồi chúc tết bà con cô bác, hàng xóm láng giềng. Đi đến đâu, vào nhà nào cũng được tiếp đón linh đình nồng hậu hơn mọi ngày với nay đủ món ngon vật lạ ngày tết.
 
Ngoài ý nghĩa tâm linh của ngày tết, dân gian Việt thiên về cuộc sống tình cảm nên xem ngày tết như là một dịp để quên đi những vất vả gian truân của cuộc sống, quên đi những buồn phiền hiềm khích năm cũ đẻ vui vẻ đón tết, ăn tết. Không một ai trong chúng ta lại không nhớ đến nỗi vui mừng khi nhận những bao tiền “Mừng Tuổi” “lì xì” màu đỏ rực thời còn nhỏ dại của người thân mừng tuổi cho những đồng tiền mới tinh. Người Việt Nam chúng ta không ai có thể quên được không khí tưng bừng nao nức của ngày tết với câu đối đỏ, những bức tranh tết đỏ rực, những câu đối chúc tụng, những tràng pháo đỏ treo trên cây nêu hoặc trên cao để đúng giờ giao thừa nổ liên hồi để xua đuổi tà ma nên đêm ba mươi dân gian còn gọi là “đêm trừ tịch”. Tiếng pháo nổ dòn giã vang rền, có nơi còn múa lân để chúc mừng gia chủ khiến lòng người ai ai cũng hoan mừng chờ đón giây phút thiêng liêng trọng đại đó để “Tống cựu nghinh tân”, đạp cái xấu xa xui xẻo năm cũ để đón mừng một năm mới tràn đầy hy vọng. Làm sao có thể quên được những đôi môi mọng đỏ của các cô gái khi cắn hạt dưa. Cái thú ngồi cắn hạt dưa đến rát cả lưỡi mà vẫn cắn không biết chán, những tiếng cười ròn rã, những câu truyện râm ran suốt cả đêm. Tết nhất với đủ mọi món ăn nào là thịt mỡ dưa hành, giò chả rồi bánh chưng, bánh tét tha hồ mà ăn đến ngán ngẫm ê hề.
 
Nói đến Tết không ai không nhớ đến bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên vào những ngày cuối năm với cái tết dân gian thấm đậm truyền thống Việt: “Nêu cao, pháo đỏ bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành …” của không khí ngày tết ở làng quê: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột. Loẹt loè trên vách bức tranh gà ..! Bên cạnh những tấm lòng chân thật còn có những lời chúc “Đầu môi-chót lưỡi” của những phường giả dối nên thi sĩ Tú Xương đã mỉa mai cay đắng:
 
“ Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu …!!!”
 
Mỗi lứa tuổi đón tết một cách khác, trẻ em thì vui mừng mong đợi ngày tết với những ước mơ đơn giản đời thường với bao tiền lì xì mừng tuổi, bộ quần áo mới và bánh thịt phủ phê năm ba ngày tết. Tuổi thanh xuân thì ngao du đây đó xa nhà, có người lo làm ăn sinh kế nên phải xa nhà tha hương nơi đất khách quê người, chợt một lúc nào đó cảm thấy hụt hẫng thiếu vắng một cái gì khiến tâm tư lắng đọng nhất là những chiều cuối năm nắng hanh vàng vọt bên thềm khiến lòng ta xao xuyến:
Chiều cuối năm gợi nhớ,
Trở về mái nhà xưa …
Ngập tràn bao kỷ niệm,
Thương biết mấy cho vừa ..!
Chiều cuối năm gợi nhớ,
Một thoáng buồn xa đưa …
Những người thân thương cũ,
Chờ ai đón Giao thừa ..?!
(Phạm Trần Anh)
 
Thi sĩ Thế Lữ cũng đã trải qua những ngày tết xa nhà nơi gác trọ mới cảm thấy một nỗi buồn thấm thía:
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran ...
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang ..!
 
Với tuổi già thì những ngày cuối năm biết bao nhiêu buồn vui cuộc sống đủ để trầm ngâm về thế thái nhân tình, về cõi nhân sinh riêng mình chứng nghiệm! Nhìn bàn thờ khói hương nghi ngút, nhớ những người thân đã qua đời, những bạn bè không còn nữa, chậm rãi vuốt chòm râu bạc nhấp một hớp rượu rồi khề khà ngâm vịnh:
 
“ Nén hương khói toả thờ Tiên Tổ,
Chén rượu ngâm nga chúc bạn bè ...!”
 
Vào tuổi “Thất thập cổ lai hi”, với cái nhìn thấu suốt toàn diện cuộc đời sau bao năm thể nghiệm cuộc sống để cuối đời nhận chân được qui luật muôn đời của con tạo xoay vần, của sinh lão bệnh tử nên bình thản chấp nhận tuổi già xồng xộc đến, chờ đón cái chết một cách ung dung tự tại như bài kệ “Cáo tật Thị chúng” của thiền sư Mãn Giác:
 
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai ..
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai ..
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai ..!
Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa tươi ..
Việc đời qua trước mắt,
Trên đầu già đến rồi …
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng mãi,
Đêm qua sân trước một cành mai ..!
 
PHẠM TRẦN QUỐC VIỆT

lørdag 2. februar 2013

NIỀM TIN TÔN GIÁO TRIỆT TIÊU VÔ THẦN


Trải qua hơn bốn ngàn năm thăng trầm của lịch sử, dân tộc Việt qua từng thế hệ không ngừng vun đắp những giá trị đạo đức, nhân văn, tập tục, văn hóa của tiền nhân và tiếp nhận những triết lý tôn giáo của phương Đông lẫn phương Tây.

Các tôn giáo đang hiện hữu tại Việt Nam, dù đến trước hay đến sau, đều dựa trên nền tảng đạo đức, giúp con người hướng đến chân, thiện, mỹ và tạo dựng một xã hội hài hòa tốt đẹp, dựa trên các tín lý căn bản.
Năm 1917, đánh dấu một thời kỳ đen tối của nhân loại khi chủ thuyết cộng sản xuất hiện tại nước Nga. Lê-nin một con quỷ đội lốt người, ra sức tạo dựng vương quốc bóng tối vô thần trên mặt đất. Ngay khi khống chế được nước Nga, với chủ trương vô thần, vô tổ quốc và vô gia đình, Lê-nin và đồng đảng ra tay giết hại hàng chục triệu người Nga và những dân tộc khác ở Châu Âu. Phá hủy nơi thờ tự của các tôn giáo, bách hại các tín đồ và cầm tù các chức sắc tôn giáo.

Đến năm 1949 người dân Trung Hoa rơi vào tay lũ quỷ đỏ Trung cộng, Mao Trạch Đông còn tàn bạo hơn cả Lê-nin và Sta-lin. Hàng chục triệu người đã bị giết, vì muốn có một thiên đường xã hội ảo tưởng của Mao chủ tịch. Và cũng như nước Nga, các tôn giáo ở Trung Hoa là mục tiêu triệt hạ của nhà cầm quyền.
Hồ Chí Minh kẻ làm tay sai nhiệt thành cho quốc tế cộng sản. Ông ta rập khuôn máy móc, không cần suy xét đúng sai những tội ác mà các tên đồ tể như: Lê-nin, Stalin, Mao Trạch Đông...đã làm. Hồ Chí Minh tự nhận mình là học trò xuất sắc của Lê-nin, đã cùng đồng bọn tổ chức đấu tố cải cách ruộng đất, để cướp của giết người. Chế độ của ông ta phá tan đình chùa am miếu, nhà thờ tu viện, cấm tụ tập thờ phượng, kể cả những lễ hội văn hóa dân gian của dân tộc đã có từ ngàn đời. Những việc làm của ông Hồ xứng đáng được tưởng thưởng qua câu nói của Lê-nin là: Ngu dốt cộng với nhiệt tình thì bằng phá hoại".

Trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn từ 1954 đến 1975, Việt cộng tuy đang đàn áp các tôn giáo ở miền Bắc một cách khốc liệt, loài quỷ đỏ vẫn giật dây và khích động một số ít các lãnh đạo tôn giáo đang sống trong chế độ miền Nam Cộng Hòa, để họ chống đối một chính phủ dân chủ còn non trẻ. Những lãnh đạo tôn giáo trong miền Nam lúc bấy giờ do ngây thơ, mê muội vì sự tuyên truyền của cộng sản, hoặc ấu trĩ về nhận thức chính trị đã tiếp tay làm lợi cho cộng sản thôn tính miền Nam. Trong khi họ lại làm ngơ hay im lặng trước nỗi thống khổ cùng cực của người dân miền Bắc nói chung và tôn giáo nói riêng.

30 tháng tư năm 1975, miền Nam bị Việt cộng cưỡng chiếm, các tôn giáo ở miền Nam lúc này biến thành những khối " thuốc phiện" bị cộng sản loại bỏ không thương tiếc, vì Karl Marx đã từng nói tôn giáo là một thứ thuốc phiện. Thật mỉa mai và bẽ bàng thay những người lãnh đạo tôn giáo một thời ủng hộ cộng sản khi chúng còn ở bên kia bờ vĩ tuyến 17 mới thấm thía, tường tận sự so sánh giữa tôn giáo và thuốc phiện của người cộng sản.

Kềm kẹp, bách hại và chia rẽ là ngón nghề của cộng sản dù ở bất cứ đâu, nhất là đối với các tôn giáo. Việt cộng hạn chế sinh hoạt và bày tỏ tín ngưỡng, bắt bớ cầm tù dài hạn các lãnh đạo tinh thần, lập ra các tôn giáo quốc doanh cùng tên để khống chế và lũng đoạn các tôn giáo thuần túy, chính thống. Các hội đoàn tôn giáo trước năm 1975 buộc phải giải tán.

Việt cộng vô thần xây dựng quyền lực bóng tối bằng những tội ác giết người để tạo sự sợ hãi mà vâng phục. Che dấu bản chất bất nhân của Hồ Chí Minh bằng cách thần thánh hóa ông ta trong sự dối trá, và trơ trẽn đặt tượng Hồ Chí Minh ngang hàng với Đức Phật trong chùa Đại Nam-Bình Dương. Các giá trị đạo đức, tâm linh và nhân bản của tôn giáo, được Việt cộng thay thế bằng quyền lợi vật chất, thói xu nịnh giả dối, gian tham và thứ đạo dức cách mạng sắt máu.

Bởi sự giằng co giữa thiện và ác, nên các tôn giáo chưa lúc nào ngừng nghỉ trong việc giúp con người hướng thiện, thăng tiến xã hội và chống lại cái ác. Các tôn giáo như: Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành liên tục xuất hiện những con người tranh đấu trong ôn hòa bất bạo động, để đòi quyền tự do tôn giáo thật sự, lên tiếng trước những bất công xã hội, và phục hồi các giá trị đạo đức mà Việt cộng đã tàn phá. Sự dấn thân của họ đã phải trả giá đắt cho những sự bắt bớ, tra tấn, những án tù dài hạn và cả hy sinh mạng sống.

Việt cộng trong mười năm gần đây, tập tành buôn thần bán thánh. Họ cho tu bổ các di tích lịch sử tôn giáo, những đền chùa, miếu thuộc các tôn giáo quốc doanh, rồi tổ chức lễ hội, cúng bái, thăm viếng để thu tiền khách thập phương. Nơi nào có bàn tay thao túng của Việt cộng nhúng vào thì y như rằng nơi tôn nghiêm ấy trở nên vạn phần bát nháo và dung tục.

Việt cộng chính là thứ thuốc độc làm cho xã hội băng hoại, đạo đức suy đồi, cái ác, cái xấu hiện diện khắp nơi. Trong trường học thì sự tuyên truyền giả dối của chế độ đang cố gắng làm cho học sinh-sinh viên mất phương hướng để nhận định giữa đúng và sai. Ngoài xã hội thì cướp giật, bạo lực, dâm ô tràn lan, kẻ có chức quyền thì hối lộ, tham nhũng, sống xa hoa buông thả nhưng lại thích lên mặt dạy đạo đức. Lực lượng công an thì bạo hành dân như côn đồ. Đất nước này đang nhiễu nhương như thế, là do vai trò dẫn dắt tinh thần của các tôn giáo đã bị Việt cộng loại bỏ, và hậu quả giờ đã nhãn tiền nhưng người dân phải gánh chịu.

Người dân Việt Nam đa phần đều có tín ngưỡng, vì thế chúng ta không thể để Việt cộng phá đổ nền tảng đạo lý của tiền nhân, chà đạp nhân phẩm và cổ xúy cho sự giả dối. Hãy giúp thanh thiếu niên miễn nhiễm với những tuyên truyền bịp bợm của Việt cộng, và hướng tuổi trẻ đến với các sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Thân nhân những người đang trong ngành công an, hãy kêu gọi họ bỏ ngũ, hoặc ít ra cũng ngừng gây tội ác với dân lành. Toàn dân Việt cùng chung tay góp sức bằng mọi cách, đẩy lùi bóng đêm tăm tối cộng sản, để thắp sáng lên niềm tin tôn giáo.

Lý Trần Công.

Nhân Nhượng Nữa Là Vực Thẳm


Đọc cái tin về việc Trung Cộng in hình lưỡi bò trên hộ chiếu mà không dám tin vào mắt mình: Dẫu vẫn biết tư tưởng bành trướng Đại Hán nó thâm độc, nhiều chiêu thức, khôn lường ngang ngược và tàn tệ lắm nhưng không ngờ lại có thể ngang ngược đến tận cùng, tráo trở đến cạn tàu ráo máng như thế . Câu hỏi đầu tiên đặt ra: Đã nhiều tháng kể từ khi Trung Cộng áp đặt cung cách ngoại giao vô luân, sao mãi bây giờ mới phản đối? Sự lúng túng về giải pháp hay là lại loay hoay tìm kiếm cái gọi là "đối sách" để khỏi làm mất lòng kẻ chưa bao giờ có một tấm lòng.

Trả lời cho câu hỏi này thật giản dị: Không thể lựa chọn cách phủi áo, phủi cả chút tự trọng cuối cùng trước khi quỳ xuống sao cho lưng vẫn thẳng. Chẳng có bao giờ quỳ lạy mà lưng lại không cong như cái dấu hỏi đớn đau của hơn 90 triệu người con cháu Lạc Hồng. Người xưa dạy: "Hỏi lúc vội vàng để xem trí". Cái "vội vàng" trong trường hợp này là khi TC đưa ra một phép thử quyết liệt, tàn nhẫn, độc ác như thế thì phản ứng chậm đồng nghĩa với sự kém cỏi về trí lực, sự non thiểu về chính trị và sự mềm yếu của ý chí tự chủ, tự cường. Câu hỏi tiếp theo là: Tại sao VN là nước chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất, tổn thất toàn diện và đau đớn nhất lại là nước phản ứng ít thỏa đáng nhất? Ấn Độ cho biết họ sẽ có đối sách tức là trả đũa với sự ngông cuồng của TC.

Đường lưỡi bò vô sỉ hầu như chẳng liên quan gì đến Ấn, nhưng nó sẽ là TIỀN LỆ nguy hiểm bởi không phản ứng thì TC sẽ "tàn sát" Ấn Độ và tất cả mọi nước có chung biên giới bị tranh chấp mà thiệt hại thì ai cũng rõ . Đài Loan dòng tộc với đại lục mà còn đòi tẩy chay cái hộ chiếu đó bởi chấp nhận nó là đồng nghĩa với việc mặc nhiên coi Đài Quốc là một tỉnh nằm trong đường lưỡi bò. Không lẽ gì chúng ta có thể chấp nhận sự SỈ NHỤC tận cùng nếu không có giải pháp quyết liệt? TC đã đặt nước ta vào cái thế đứng trên bờ vực thẳm, nơi tận cùng của sự sống và chết, xin hãy vươn dậy, vì đứng thẳng là sống còn ngược lại là tự sát. Không phải ngẫu nhiên mà con người luôn phải đứng trước sự lựa chọn ngặt nghèo giữa cái sống hoặc chết . Hộ chiếu có đường lưỡi bò là cái cuối cùng lượng định chính xác tinh thần dân tộc, ý chí và bản lĩnh của những người có trách nhiệm cũng như đây là sự đo lường sau cùng niềm tin của toàn thể dân tộc đối với một chính sách đối ngoại đúng đắn của nhà cầm quyền CSVN.

Là con người, chẳng ai muốn lâm vào cảnh bước đường cùng. Là một dân tộc, bị ngoại bang ép đến cái thế tận cùng thì đúng là bức bách, ngột ngạt và đau đớn khôn cùng. Mọi sự nhân nhượng là có giới hạn. Chúng ta càng nhân nhượng quá mức thì ngay cả người Trung Cộng cũng buộc phải nghĩ là VN sai (?); chứ nếu đúng, sao VN lại không phản ứng? Hậu quả của sự nhân nhượng sai nguyên tắc sẽ đưa đến phương cách giải quyết không có lối thoát. Đọc Quan khí một cuốn tiểu thuyết của Trung Cộng, phải rùng mình đến rởn gai ốc vì những gì được diễn tả về mối liên quan với láng giềng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và xem phim Truyền thuyết Jumon của ĐạiHàn, sẽ nghiệm rất rõ rằng người Triều Tiên đã nhiều lần muốn nhân nhượng với người Hán nhưng không thể, bởi lũ Hán tặc đó sẽ bắt họ nhân nhượng mãi hoài cho đến chết (!). Chính vì Jumon và nhân dân Triều Tiên biết rõ điều này nên đế chế Tây Hán hùng mạnh đến thế chỉ thống trị được Triều Tiên có mấy chục năm!

Chẳng lẽ những người có trách nhiệm không hiểu cái SỰ THẬT rành rành mà không một người hiểu biết nào không hiểu hay sao?

Hà Văn Thịnh.

TUỔI TRẺ VIỆT NAM & CON TIM VIỆT TỘC


Cứu nước và dựng nước là sứ mệnh chung của toàn thể dân Việt. Nhưng nhìn vào những diễn biến thế giới nói chung và Việt Nam hôm nay, người ta phải nhận thức rằng, giới trẻ đang nắm vai trò then chốt trong cuộc vận động dân chủ. Riêng tại Việt Nam, giới trẻ đang bị cộng sản Việt Nam trấn áp, trù dập, nhưng đã có những người trẻ dám đứng lên, đem mạng sống thách đố với bạo quyền, đốt lên những ngọn đuốc sáng dân chủ và công lý. Có thể coi giới trẻ Việt Nam hôm nay là ý thức và con tim của dân tộc.

Tại hải ngoại, trước đây nhiều người trách cứ giới trẻ chỉ lo học hành tiến thân, không màng gì đến quê hương xứ sở, có khi còn xa nguồn mất gốc, đánh mất bản sắc dân tộc. Nhưng sau hơn 37 năm sống lưu vong, giới trẻ Việt Nam hôm nay đang thực hiện một cuộc trở về rất khích lệ. Tại hầu hết các trường Đại Học, người ta thấy lần lượt xuất hiện những hội sinh viên có tinh thần quốc gia dân tộc chân chính, đối đầu với những nhóm du sinh do cộng sản Việt Nam gửi đi và điều hướng. Người ta còn thấy xuất hiện những tổ chức thanh niên sinh viên tích cực dấn thân cho cuộc vận động dân chủ. Tiếng hát của Việt Dũng, Nguyệt Ánh, Lê Huy Phong, Lê Huy Phát, Trúc Hồ đang vang dậy như những tiếng chuông cảnh tỉnh, như tiếng gọi lên đường của giới trẻ Việt Nam hải ngoại hòa với nhịp tim dân chủ của giới trẻ trong nước.

Nhìn về giới trẻ trong nước, hẳn không ai dấu nỗi niềm phấn khởi vô bờ, với những tiếng nói bất khuất của Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến, Phương Uyên... Đáng nói nhất là tiếng hát từ đáy tim của Việt Khang "Anh là Ai?", "Việt Nam Tôi Đâu?" đang khơi động ý thức và con tim dân tộc, làm rung chuyển bộ máy đàn áp và tay sai của cộng sản Việt Nam hôm nay.

Dân Việt cũng cảm thấy một niềm phấn khởi vô bờ trước hiện tượng bừng vỡ ý thức và con tim của những thanh niên và trí thức Vinh, dám đem sinh mạng thách đố với bạo quyền, quyết nói lên tiếng nói của công lý và dân chủ. Trước đây, bản án bất công đã giáng xuống các thanh niên Đậu Văn Dương với 38 tháng tù, Trần Hữu Đức 38 tháng tù và Chu Mạnh Sơn 42 tháng tù đã làm thế giới bất bình. Mới đây, tòa án cộng sản Việt Nam lại áp dụng luật rừng, xử phạt 17 thanh niên trí thức Vinh tổng cộng trên 80 năm tù, về tội danh chống phá nhà nước, mà thực ra chỉ là đòi hỏi công lý và dân chủ, càng làm thế giới phẫn nộ lên án.
Một hiện tượng phấn khởi khác là sự bừng tỉnh của ý thức và con tim dân tộc trong giới trẻ đã được chế độ uốn nắn và đầu độc, tiêu biểu như các anh Nguyễn Chí Đức, Đặng Xuân Khánh và Bùi Chí Vinh.

Đặng Xuân Khánh, một sinh viên tại Việt Nam đã thẳng thắn nêu lên những câu hỏi lớn như những vấn nạn lịch sử đối với cộng sản Việt Nam về cuộc di cư năm 1954 của cả triệu người miền Bắc vào Nam chạy trốn cộng sản, về hiện tượng dân chúng chạy về phía quân đội Cộng Hòa thay vì bộ đội giải phóng trong các cuộc giao tranh. Anh cũng muốn hỏi tại sao khi miền Bắc đánh cho "Mỹ cút ngụy nhào" thì đồng bào lại bỏ nước ra đi? Và hôm nay, sau hơn 30 năm "giải phóng" mà dân Việt còn tìm cách bỏ nước, đi lao động nước ngoài hay thậm chí, đi làm dâu xứ người hay nô lệ tình dục để chạy trốn cộng sản? Nhất là Hà Nội đã gọi người Việt tỵ nạn là Việt kiều yêu nước, là khúc ruột ngàn dặm, sao họ không về Việt Nam mà làm công dân nước CHXHCN tiên tiến?

Nguyễn Chí Đức, một đảng viên trẻ, sau khi đem hết bầu nhiệt huyết phục vụ chế độ, đã nhận thấy bộ mặt thật của cộng sản, đã ly khai khỏi đảng và gia nhập phong trào tuổi trẻ chống ngoại xâm. Anh đã xuống đường biểu tình, hô vang khẩu hiệu chống Trung cộng và anh đã bị tên Đại Úy công an đạp vỡ mặt khi bước lên xe buýt tại Hà Nội! Hình ảnh man rợ đó, cũng như hình ảnh LM Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại tòa án nhân dân Huế Thừa Thiên là những vết nhơ đáng nguyền rủa trên bộ mặt tàn ác của Hà Nội.

Bùi Chí Vinh, một người trẻ khác từ Việt Nam, cũng rất lịch sự lên tiếng cảnh cáo lãnh đạo cộng sản bất lương hôm nay, coi chừng bị sức mạnh nhân dân quật ngã:
Quý vị như thế mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân
Hiện tượng bừng vỡ ý thức và con tim của những người trẻ trong lòng chế độ thật đáng cho chúng ta suy nghĩ và có thể thay đổi cái nhìn, mà trước đây, Hà Sĩ Phu và Đỗ Mạnh Tri đã cổ võ. Theo hai nhà lý luận trên, chúng ta đừng ngây thơ hy vọng rằng, rồi đây, giới trẻ Việt Nam, nhất là giới trẻ được chế độ gửi đi du học ngoại quốc sẽ làm cho cộng sản biến thể với những kiến thức dân chủ học được từ Tây Phương. Theo hai ông, mọi chuyện đã sắp xếp đâu vào đó. Con cháu đảng viên đã được chuẩn bị chu đáo để tiếp tục con đường độc tài toàn trị của cha ông. Thế là cánh cửa dân chủ sẽ còn khép kín lâu dài. Những diễn biến mới đây cho phép chúng ta lạc quan hơn và thẩm định lại lý luận của Hà Sĩ Phu và Đỗ Mạnh Tri, để tin tưởng rằng, hiện tượng ý thức và con tim bừng vỡ nơi giới trẻ trong lòng chế độ sẽ là yếu tố quyết định đưa tới những chuyển đổi chính trị một ngày không xa.
Để kết, người viết chỉ xin nhắc lại một chân lý "chế độ nào cũng sụp, chính quyền nào cũng đổ, chỉ có dân tộc mới trường tồn". Dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao sóng gió, đã trải qua bao bất hạnh từ đô hộ Bắc Phương, từ thực dân Tây Phương và từ cộng sản quốc tế mang vỏ dân tộc. Hôm nay, dân tộc Việt Nam đang chỗi dậy, đứng lên vươn vai theo ý thức và con tim Phù Đỗng của tuổi trẻ. Ngày sụp đổ của chế độ cộng sản bạo tàn đã gần kề. Ngày ra đi của tập đoàn lãnh đạo bất lương và phản bội cũng không còn xa. Một ngày gần đây, từ ngục tối thâm u, Việt Khang sẽ nghe vang dội tiếng hát "Việt Nam tôi đây"!

Ngô Quốc Sĩ.