mandag 11. februar 2013

NGÀY TẾT TRONG TÂM THỨC VIỆT


 
Trong những lễ hội dân gian, người Việt xem trọng nhất là Tết. Tết là phong tục truyền thống của người Việt từ xa xưa cho đến ngày nay. Dân gian vẫn thường phân biệt là Tết ta và Tết Tây chứ không ai nói là tết Tàu vì chỉ dân tộc Việt Nam mới có chữ “TẾT” mà thôi, Hán ngữ không có chữ tết nên Tết là của Việt Nam chứ không phải của Tàu. Thật vậy, trong Kinh Lễ viết Tế-Sạ. Tết mà Khổng Tử, người thầy muôn đời của người Trung Quốc đã giải thích với học trò:"Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là "Tế-Sạ". Điều này chứng tỏ rằng người Trung Quốc không có tết và Kinh Lễ là của người Việt cổ nên tên gọi tết cổ của người Thái là chi Âu Việt trong Bách Việt cũng gọi Tết là Thê-Sa.
 
Tết là ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền Đông Nam Á. Ngày nay, các công trình nghiên cứu đã xác định cư dân Đông Nam Á cùng chung chỉ số sọ, cùng một mã di truyền DNA, nên là những chi tộc Việt trong Bách Việt. Chính vì vậy, tất cả đều ăn tết, chữ tết cùng một nguồn gốc với chữ Tết của Việt tộc. Đồng bào Nùng cũng đọc là tết (nèn tết=năm tết), đồng bào Mường cũng ăn “Thêt”= ăn tết như đồng bào Việt, đồng bào Thái thì có lễ mừng năm mới gọi là Thêts. Thêts khal là mùa tết, những ngày tết, khal text là ngày tết. Đồng bào Chàm cũng có tết mà họ gọi là “Tít” vào lễ tháng năm của lịch Chàm cổ, “băng tít” là ăn tết, kTêh là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chàm. Người Mon cũng ăn tết mà họ gọi là Ktêk. Người Khmer cũng có lễ hội “Chêtr” là Tết mừng tháng 5 theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm. Ấn Độ cũng có chữ “Chetr” để chỉ tên tháng tư và tháng năm là 2 tháng giao mùa từ mùa nắng sang mùa mưa trong lịch Ấn Độ cổ. Đặc biệt ở Népal cũng ăn tết trong “Lễ đầu năm” cổ truyền của người Népal và người Munda cũng có lễ ăn mừng mùa mưa đến gọi là “Teej”* như các quốc gia nông nghiệp trong Bách Việt.
 
Đặc biệt, truyền thuyết dưới dạng truyện cổ tích Việt Nam về lễ Tết lưu truyền trong dân gian từ bao đời nay gắn liền với ý niệm cha Trời, mẹ Đất. Ý niệm về Đất Trời được thể hiện qua hình tượng Bánh Chưng bánh dày ngay từ thời vua Hùng thứ tám (Sách sử xưa viết là vua Hùng thứ sáu vì không kể Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, chỉ tính từ vua Hùng thứ nhất. Thực ra phải nói là vua Hùng thứ tám mới đúng theo quốc phổ ghi trong Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư và phù hợp với niên đại lịch sử. Truyện kể rằng, vua Hùng thứ tám sau khì nhờ Phù Đổng Thiên Vương “Cậu bé nhà Trời” phá tan giặc Ân đã chọn người con thứ 9 là Lang Liêu để truyền ngôi. Tương truyền trong khi 21 người anh em đi tìm sơn hào hải vị để đến tết dâng lên vua cha cúng tiên vương cho tròn đạo hiếu thì Lang Liêu do mẹ mất sớm, gia đình nghèo nên chỉ biết dâng lên vua cha cặp bánh chưng hình vuông và bánh dầy hình tròn. Lang Liêu là người con hiếu thảo, biết thương người đang buồn rầu lo nghĩ rồi tủi thân vì mẹ mất sớm nên không ai phụ giúp nên “Thần nhân” hiện ra mách bảo Lang Liêu rằng: “Trong trời đất, không vật gì quý hơn gạo vì gạo là để nuôi dân, người ta ăn mãi không bao giờ chán. Nếu con lấy gạo nếp nấu sôi lên rồi đem quệt cho thật nhuyễn, nặn thành hình tròn để tượng trưng cho trời gọi là bánh dầy. Lấy gạo nếp trắng tinh đem vo sạch, cho nhân thịt và đậu xanh vào giữa rồi lấy lá dong xanh gói rồi đem nấu chín gọi là bánh chưng”. Vua Hùng thấy Lang Liêu là người biết tri ân Trời Đất, ông bà Tiên tổ, lại biết thương yêu đồng bào nên chọn chàng lên ngôi kế vị vua cha. Từ đó, dân gian Việt có tập tục là đến ngày lễ tết thì làm bánh dầy cúng trời đất, gói bánh chưng để cúng ông bà tiên tổ. Ý niệm vuông tròn biểu trưng cho trời đất và sự hoàn thiện, tuyệt mỹ nên dân gian thường chúc nhau “Mẹ tròn con vuông” mỗi khi sinh đẻ. Tinh hoa của minh triết Việt chỉ ra rằng cuộc sống phải hội đủ 2 yếu tố Âm dương mới đầy đủ viên mãn. Đó chính là “Đạo” vì phải có cả âm dương mới là đạo. Đạo Trời, đạo Đất và cũng chính là đạo người (nhất âm nhất dương chi vị đạo).
 
Trong văn học thường viết Tết gắn liền với chữ Nguyên Đán là Tết Nguyên Đán. Truyền thuyết xa xưa kể lại rằng Đế Chuyên Húc, ông vua Việt cổ thời cổ đại gọi tháng giêng là NGUYÊN, gọi mồng một là ĐÁN rồi ghép lại là Nguyên Đán tức mồng một tháng giêng. Tầm nguyên ngữ nghĩa của hai chữ Nguyên Đán sẽ cho ta thấy rõ hơn ý nghĩa và tầm quan trọng của Tết Nguyên Đán. Nguyên là mới bắt đầu, Đán là một chữ tượng hình, ở bên trên là chữ nhật chỉ mặt trời, bên dưới là chữ nhất thay cho mặt bằng phẳng khiến chúng ta liên tưởng mặt trời từ từ lên cao, tượng trưng cho một ngày mới bắt đầu. Nguyên Đán là ngày đầu năm đầu tháng giêng Âm lịch. Do đó, Tết Nguyên Đán là ngày đầu tiên của tiết đầu của một năm mới.
 
Từ thời cổ đại cho tới Nhà Hạ vẫn lấy ngày mồng một tháng giêng là ngày Tết của người Việt cổ. Nhà Hạ ăn tết nhằm cung dần, dựa theo nông lịch tức tiết đầu xuân lúc khởi đầu có sấm. Khi tộc Thương (Hán tộc) đánh đuổi Nhà Hạ (Việt tộc) khỏi Hoa Bắc thì Hán tộc chọn ngày 1 tháng 12 âm lịch là Tết Nguyên Đán, đến triều Chu chọn ngày 1 tháng 11 âm lịch, triều Tần chọn ngày 1 tháng 10 âm lịch cho cả Trung Quốc. Mãi đến thời Hán Vũ Đế chịu ảnh hưởng của văn hoá Bách Việt phương Nam nên chọn lại ngày 1 tháng giêng là Tết Nguyên Đán. Ngày nay, Trung Quốc lại chọn ngày 1 tháng 1 Dương lịch tức Tết Dương lịch của Tây phương làm ngày Tết Nguyên Đán nhưng dân gian phần lớn là người gốc Việt cổ vẫn “Ăn Tết” vào ngày mồng 1 tháng giêng. Duy chỉ có dân tộc Việt Nam trước sau như một vẫn bảo lưu truyền thống “Nông lịch” của người Việt cổ lấy ngày mồng một tháng giêng Âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Dương lịch 1 tháng 1 Dương lịch là Tết Tây.
 
Đối với người Việt, cái Tết có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống. Thật vậy, ngoài cái giờ phút thiêng liêng chuyển đổi của đất trời qua “Giao thừa” sang năm mới, mọi người trong gia đình mỗi người đều mang một tâm trạng riêng, nhớ tới những người thân đã khuất còn hiển hiện quanh đây, trong không khí ấm cúng của gia đình đêm ba mươi tết. Trên bàn thờ với đĩa ngũ quả khói hương nghi ngút, đan quyện linh hồn những người đã khuất với kẻ còn sống đang tưởng nhớ tới họ. Tết nhất cũng là dịp gia đình đoàn tụ xum vầy, cháu con dù đi làm ăn xa đến đâu nếu có phương tiện vẫn trở về mái ấm gia đình, để hàn huyên tâm sự chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống.
 
Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng chạp (tháng 12 ÂL), ai cũng nao nao trong lòng về ngày Tết sắp đến. Qua ngày hai mươi là Tết đến nơi rồi, không biết năm nay những người thân xa quê hương ai sẽ về đón Tết, ăn Tết với gia đình? Để chuẩn bị vui đón cái tết đúng ý nghĩa của nó, gia đình nào cũng phải trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ Gia Tiên với đĩa “Ngũ quả” gồm 5 loại trái cây là trái sung, trái mãng cầu, trái dừa, đu đủ, xoài nói lên ước vọng tâm tư dân dã miền Nam. Cầu (mãng cầu) trời khấn phật cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (Xoài). Người Việt miền Bắc thì trong đĩa ngũ quả phải có một chùm quả Sung ước mong sự sung túc cho gia đình.
“ Mỗi năm hoa Đào nở,
lại thấy ông Đồ già ..
Nghiên mực tàu giấy đỏ,
bên phố đông người qua…
 
Ngày xưa dân gian thường nhờ ông Đồ viết đôi câu đối để chúc tụng, cầu mong tài lộc hạnh phúc theo ý của mỗi người: “Hoa tay thảo những nét, Như Phượng múa Rồng bay”. Năm nay “Đào lại nở” nhưng ít thấy ông Đồ xưa nên chúng ta phải nhờ mấy “ông Thư pháp trẻ” viết vài chữ, vài câu gọi là mừng xuân. Giới trẻ thì trước tết đã rủ nhau đến hiệu sách chọn mua thiệp Xuân để gửi chúc tết đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp với những lời chúc mừng nhân dịp Xuân về.
 
Ngày 23 tháng chạp là ngày ông Táo lên trời. Đêm giao thừa 30 tháng chạp, ông Táo lại trở về trần gian với gia đình vào thời điểm “năm cùng tháng tận” mang lại hy vọng cho gia chủ sang năm làm ăn may mắn phát tài phát lộc. Vào dịp cuối năm, gia đình nào cũng lo sơn quét nhà của đón Tết nhưng cũng không quên ra thăm viếng sửa sang sơn quét những ngôi mộ của người thân, đó chính là lúc tâm hồn người ta chùng xuống chạnh nhớ ông bà cha mẹ, nhớ những ngày tháng đã qua trong cuộc đời trong tâm thức mỗi con người. Lễ Tết còn thể hiện tình bà con nghĩa làng nước, gia đình này bàn với gia đình kia mổ chung một con heo, nấu chung nồi bánh chưng, bánh tét để được ngồi bên nhau canh nồi bánh kể chuyện râm ran cả một quá khứ tuổi thơ hiện về ngập tràn tâm tưởng.
 
Trước Tết nhà nào cũng lo đi sắm Tết, mua cho con trẻ bộ áo mới để mặc tết. Đúng giờ Giao thừa, gia đình đứng trước bàn thờ gia tiên để khấn vái ông bà Tiên Tổ phù hộ cho mọi người. Trong không khí trang trọng đặc biệt của ngày Tết, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, con cháu lần lượt chúc tuổi các bậc trưởng thượng ông bà cha mẹ được sống lâu trăm tuổi, rồi ông bà cha mẹ lại mừng tuổi cho con cháu mau khôn lớn, học hành thành đạt … Sau đó, gia đình anh chị em rủ nhau đến chùa lễ Phật hoặc đến nhà thờ nhưng không quên tập tục dân gian xưa là bẻ một cành cây có lá non gọi là “Hái lộc” mới đem về nhà cho sang năm gia đình được nhiều may mắn, tài lộc.
 
Truyền thống dân gian Việt là “Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy” đã nói lên đạo hiếu của bổn phận làm con và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của người Việt. Ngày mồng một tết, sau khi chúc tuổi thọ cha mẹ, dân gian còn phải đến chúc tết các bậc trưởng thượng trong dòng họ rồi chúc tết bà con cô bác, hàng xóm láng giềng. Đi đến đâu, vào nhà nào cũng được tiếp đón linh đình nồng hậu hơn mọi ngày với nay đủ món ngon vật lạ ngày tết.
 
Ngoài ý nghĩa tâm linh của ngày tết, dân gian Việt thiên về cuộc sống tình cảm nên xem ngày tết như là một dịp để quên đi những vất vả gian truân của cuộc sống, quên đi những buồn phiền hiềm khích năm cũ đẻ vui vẻ đón tết, ăn tết. Không một ai trong chúng ta lại không nhớ đến nỗi vui mừng khi nhận những bao tiền “Mừng Tuổi” “lì xì” màu đỏ rực thời còn nhỏ dại của người thân mừng tuổi cho những đồng tiền mới tinh. Người Việt Nam chúng ta không ai có thể quên được không khí tưng bừng nao nức của ngày tết với câu đối đỏ, những bức tranh tết đỏ rực, những câu đối chúc tụng, những tràng pháo đỏ treo trên cây nêu hoặc trên cao để đúng giờ giao thừa nổ liên hồi để xua đuổi tà ma nên đêm ba mươi dân gian còn gọi là “đêm trừ tịch”. Tiếng pháo nổ dòn giã vang rền, có nơi còn múa lân để chúc mừng gia chủ khiến lòng người ai ai cũng hoan mừng chờ đón giây phút thiêng liêng trọng đại đó để “Tống cựu nghinh tân”, đạp cái xấu xa xui xẻo năm cũ để đón mừng một năm mới tràn đầy hy vọng. Làm sao có thể quên được những đôi môi mọng đỏ của các cô gái khi cắn hạt dưa. Cái thú ngồi cắn hạt dưa đến rát cả lưỡi mà vẫn cắn không biết chán, những tiếng cười ròn rã, những câu truyện râm ran suốt cả đêm. Tết nhất với đủ mọi món ăn nào là thịt mỡ dưa hành, giò chả rồi bánh chưng, bánh tét tha hồ mà ăn đến ngán ngẫm ê hề.
 
Nói đến Tết không ai không nhớ đến bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên vào những ngày cuối năm với cái tết dân gian thấm đậm truyền thống Việt: “Nêu cao, pháo đỏ bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành …” của không khí ngày tết ở làng quê: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột. Loẹt loè trên vách bức tranh gà ..! Bên cạnh những tấm lòng chân thật còn có những lời chúc “Đầu môi-chót lưỡi” của những phường giả dối nên thi sĩ Tú Xương đã mỉa mai cay đắng:
 
“ Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu …!!!”
 
Mỗi lứa tuổi đón tết một cách khác, trẻ em thì vui mừng mong đợi ngày tết với những ước mơ đơn giản đời thường với bao tiền lì xì mừng tuổi, bộ quần áo mới và bánh thịt phủ phê năm ba ngày tết. Tuổi thanh xuân thì ngao du đây đó xa nhà, có người lo làm ăn sinh kế nên phải xa nhà tha hương nơi đất khách quê người, chợt một lúc nào đó cảm thấy hụt hẫng thiếu vắng một cái gì khiến tâm tư lắng đọng nhất là những chiều cuối năm nắng hanh vàng vọt bên thềm khiến lòng ta xao xuyến:
Chiều cuối năm gợi nhớ,
Trở về mái nhà xưa …
Ngập tràn bao kỷ niệm,
Thương biết mấy cho vừa ..!
Chiều cuối năm gợi nhớ,
Một thoáng buồn xa đưa …
Những người thân thương cũ,
Chờ ai đón Giao thừa ..?!
(Phạm Trần Anh)
 
Thi sĩ Thế Lữ cũng đã trải qua những ngày tết xa nhà nơi gác trọ mới cảm thấy một nỗi buồn thấm thía:
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran ...
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang ..!
 
Với tuổi già thì những ngày cuối năm biết bao nhiêu buồn vui cuộc sống đủ để trầm ngâm về thế thái nhân tình, về cõi nhân sinh riêng mình chứng nghiệm! Nhìn bàn thờ khói hương nghi ngút, nhớ những người thân đã qua đời, những bạn bè không còn nữa, chậm rãi vuốt chòm râu bạc nhấp một hớp rượu rồi khề khà ngâm vịnh:
 
“ Nén hương khói toả thờ Tiên Tổ,
Chén rượu ngâm nga chúc bạn bè ...!”
 
Vào tuổi “Thất thập cổ lai hi”, với cái nhìn thấu suốt toàn diện cuộc đời sau bao năm thể nghiệm cuộc sống để cuối đời nhận chân được qui luật muôn đời của con tạo xoay vần, của sinh lão bệnh tử nên bình thản chấp nhận tuổi già xồng xộc đến, chờ đón cái chết một cách ung dung tự tại như bài kệ “Cáo tật Thị chúng” của thiền sư Mãn Giác:
 
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai ..
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai ..
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai ..!
Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa tươi ..
Việc đời qua trước mắt,
Trên đầu già đến rồi …
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng mãi,
Đêm qua sân trước một cành mai ..!
 
PHẠM TRẦN QUỐC VIỆT

lørdag 2. februar 2013

NIỀM TIN TÔN GIÁO TRIỆT TIÊU VÔ THẦN


Trải qua hơn bốn ngàn năm thăng trầm của lịch sử, dân tộc Việt qua từng thế hệ không ngừng vun đắp những giá trị đạo đức, nhân văn, tập tục, văn hóa của tiền nhân và tiếp nhận những triết lý tôn giáo của phương Đông lẫn phương Tây.

Các tôn giáo đang hiện hữu tại Việt Nam, dù đến trước hay đến sau, đều dựa trên nền tảng đạo đức, giúp con người hướng đến chân, thiện, mỹ và tạo dựng một xã hội hài hòa tốt đẹp, dựa trên các tín lý căn bản.
Năm 1917, đánh dấu một thời kỳ đen tối của nhân loại khi chủ thuyết cộng sản xuất hiện tại nước Nga. Lê-nin một con quỷ đội lốt người, ra sức tạo dựng vương quốc bóng tối vô thần trên mặt đất. Ngay khi khống chế được nước Nga, với chủ trương vô thần, vô tổ quốc và vô gia đình, Lê-nin và đồng đảng ra tay giết hại hàng chục triệu người Nga và những dân tộc khác ở Châu Âu. Phá hủy nơi thờ tự của các tôn giáo, bách hại các tín đồ và cầm tù các chức sắc tôn giáo.

Đến năm 1949 người dân Trung Hoa rơi vào tay lũ quỷ đỏ Trung cộng, Mao Trạch Đông còn tàn bạo hơn cả Lê-nin và Sta-lin. Hàng chục triệu người đã bị giết, vì muốn có một thiên đường xã hội ảo tưởng của Mao chủ tịch. Và cũng như nước Nga, các tôn giáo ở Trung Hoa là mục tiêu triệt hạ của nhà cầm quyền.
Hồ Chí Minh kẻ làm tay sai nhiệt thành cho quốc tế cộng sản. Ông ta rập khuôn máy móc, không cần suy xét đúng sai những tội ác mà các tên đồ tể như: Lê-nin, Stalin, Mao Trạch Đông...đã làm. Hồ Chí Minh tự nhận mình là học trò xuất sắc của Lê-nin, đã cùng đồng bọn tổ chức đấu tố cải cách ruộng đất, để cướp của giết người. Chế độ của ông ta phá tan đình chùa am miếu, nhà thờ tu viện, cấm tụ tập thờ phượng, kể cả những lễ hội văn hóa dân gian của dân tộc đã có từ ngàn đời. Những việc làm của ông Hồ xứng đáng được tưởng thưởng qua câu nói của Lê-nin là: Ngu dốt cộng với nhiệt tình thì bằng phá hoại".

Trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn từ 1954 đến 1975, Việt cộng tuy đang đàn áp các tôn giáo ở miền Bắc một cách khốc liệt, loài quỷ đỏ vẫn giật dây và khích động một số ít các lãnh đạo tôn giáo đang sống trong chế độ miền Nam Cộng Hòa, để họ chống đối một chính phủ dân chủ còn non trẻ. Những lãnh đạo tôn giáo trong miền Nam lúc bấy giờ do ngây thơ, mê muội vì sự tuyên truyền của cộng sản, hoặc ấu trĩ về nhận thức chính trị đã tiếp tay làm lợi cho cộng sản thôn tính miền Nam. Trong khi họ lại làm ngơ hay im lặng trước nỗi thống khổ cùng cực của người dân miền Bắc nói chung và tôn giáo nói riêng.

30 tháng tư năm 1975, miền Nam bị Việt cộng cưỡng chiếm, các tôn giáo ở miền Nam lúc này biến thành những khối " thuốc phiện" bị cộng sản loại bỏ không thương tiếc, vì Karl Marx đã từng nói tôn giáo là một thứ thuốc phiện. Thật mỉa mai và bẽ bàng thay những người lãnh đạo tôn giáo một thời ủng hộ cộng sản khi chúng còn ở bên kia bờ vĩ tuyến 17 mới thấm thía, tường tận sự so sánh giữa tôn giáo và thuốc phiện của người cộng sản.

Kềm kẹp, bách hại và chia rẽ là ngón nghề của cộng sản dù ở bất cứ đâu, nhất là đối với các tôn giáo. Việt cộng hạn chế sinh hoạt và bày tỏ tín ngưỡng, bắt bớ cầm tù dài hạn các lãnh đạo tinh thần, lập ra các tôn giáo quốc doanh cùng tên để khống chế và lũng đoạn các tôn giáo thuần túy, chính thống. Các hội đoàn tôn giáo trước năm 1975 buộc phải giải tán.

Việt cộng vô thần xây dựng quyền lực bóng tối bằng những tội ác giết người để tạo sự sợ hãi mà vâng phục. Che dấu bản chất bất nhân của Hồ Chí Minh bằng cách thần thánh hóa ông ta trong sự dối trá, và trơ trẽn đặt tượng Hồ Chí Minh ngang hàng với Đức Phật trong chùa Đại Nam-Bình Dương. Các giá trị đạo đức, tâm linh và nhân bản của tôn giáo, được Việt cộng thay thế bằng quyền lợi vật chất, thói xu nịnh giả dối, gian tham và thứ đạo dức cách mạng sắt máu.

Bởi sự giằng co giữa thiện và ác, nên các tôn giáo chưa lúc nào ngừng nghỉ trong việc giúp con người hướng thiện, thăng tiến xã hội và chống lại cái ác. Các tôn giáo như: Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành liên tục xuất hiện những con người tranh đấu trong ôn hòa bất bạo động, để đòi quyền tự do tôn giáo thật sự, lên tiếng trước những bất công xã hội, và phục hồi các giá trị đạo đức mà Việt cộng đã tàn phá. Sự dấn thân của họ đã phải trả giá đắt cho những sự bắt bớ, tra tấn, những án tù dài hạn và cả hy sinh mạng sống.

Việt cộng trong mười năm gần đây, tập tành buôn thần bán thánh. Họ cho tu bổ các di tích lịch sử tôn giáo, những đền chùa, miếu thuộc các tôn giáo quốc doanh, rồi tổ chức lễ hội, cúng bái, thăm viếng để thu tiền khách thập phương. Nơi nào có bàn tay thao túng của Việt cộng nhúng vào thì y như rằng nơi tôn nghiêm ấy trở nên vạn phần bát nháo và dung tục.

Việt cộng chính là thứ thuốc độc làm cho xã hội băng hoại, đạo đức suy đồi, cái ác, cái xấu hiện diện khắp nơi. Trong trường học thì sự tuyên truyền giả dối của chế độ đang cố gắng làm cho học sinh-sinh viên mất phương hướng để nhận định giữa đúng và sai. Ngoài xã hội thì cướp giật, bạo lực, dâm ô tràn lan, kẻ có chức quyền thì hối lộ, tham nhũng, sống xa hoa buông thả nhưng lại thích lên mặt dạy đạo đức. Lực lượng công an thì bạo hành dân như côn đồ. Đất nước này đang nhiễu nhương như thế, là do vai trò dẫn dắt tinh thần của các tôn giáo đã bị Việt cộng loại bỏ, và hậu quả giờ đã nhãn tiền nhưng người dân phải gánh chịu.

Người dân Việt Nam đa phần đều có tín ngưỡng, vì thế chúng ta không thể để Việt cộng phá đổ nền tảng đạo lý của tiền nhân, chà đạp nhân phẩm và cổ xúy cho sự giả dối. Hãy giúp thanh thiếu niên miễn nhiễm với những tuyên truyền bịp bợm của Việt cộng, và hướng tuổi trẻ đến với các sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Thân nhân những người đang trong ngành công an, hãy kêu gọi họ bỏ ngũ, hoặc ít ra cũng ngừng gây tội ác với dân lành. Toàn dân Việt cùng chung tay góp sức bằng mọi cách, đẩy lùi bóng đêm tăm tối cộng sản, để thắp sáng lên niềm tin tôn giáo.

Lý Trần Công.

Nhân Nhượng Nữa Là Vực Thẳm


Đọc cái tin về việc Trung Cộng in hình lưỡi bò trên hộ chiếu mà không dám tin vào mắt mình: Dẫu vẫn biết tư tưởng bành trướng Đại Hán nó thâm độc, nhiều chiêu thức, khôn lường ngang ngược và tàn tệ lắm nhưng không ngờ lại có thể ngang ngược đến tận cùng, tráo trở đến cạn tàu ráo máng như thế . Câu hỏi đầu tiên đặt ra: Đã nhiều tháng kể từ khi Trung Cộng áp đặt cung cách ngoại giao vô luân, sao mãi bây giờ mới phản đối? Sự lúng túng về giải pháp hay là lại loay hoay tìm kiếm cái gọi là "đối sách" để khỏi làm mất lòng kẻ chưa bao giờ có một tấm lòng.

Trả lời cho câu hỏi này thật giản dị: Không thể lựa chọn cách phủi áo, phủi cả chút tự trọng cuối cùng trước khi quỳ xuống sao cho lưng vẫn thẳng. Chẳng có bao giờ quỳ lạy mà lưng lại không cong như cái dấu hỏi đớn đau của hơn 90 triệu người con cháu Lạc Hồng. Người xưa dạy: "Hỏi lúc vội vàng để xem trí". Cái "vội vàng" trong trường hợp này là khi TC đưa ra một phép thử quyết liệt, tàn nhẫn, độc ác như thế thì phản ứng chậm đồng nghĩa với sự kém cỏi về trí lực, sự non thiểu về chính trị và sự mềm yếu của ý chí tự chủ, tự cường. Câu hỏi tiếp theo là: Tại sao VN là nước chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất, tổn thất toàn diện và đau đớn nhất lại là nước phản ứng ít thỏa đáng nhất? Ấn Độ cho biết họ sẽ có đối sách tức là trả đũa với sự ngông cuồng của TC.

Đường lưỡi bò vô sỉ hầu như chẳng liên quan gì đến Ấn, nhưng nó sẽ là TIỀN LỆ nguy hiểm bởi không phản ứng thì TC sẽ "tàn sát" Ấn Độ và tất cả mọi nước có chung biên giới bị tranh chấp mà thiệt hại thì ai cũng rõ . Đài Loan dòng tộc với đại lục mà còn đòi tẩy chay cái hộ chiếu đó bởi chấp nhận nó là đồng nghĩa với việc mặc nhiên coi Đài Quốc là một tỉnh nằm trong đường lưỡi bò. Không lẽ gì chúng ta có thể chấp nhận sự SỈ NHỤC tận cùng nếu không có giải pháp quyết liệt? TC đã đặt nước ta vào cái thế đứng trên bờ vực thẳm, nơi tận cùng của sự sống và chết, xin hãy vươn dậy, vì đứng thẳng là sống còn ngược lại là tự sát. Không phải ngẫu nhiên mà con người luôn phải đứng trước sự lựa chọn ngặt nghèo giữa cái sống hoặc chết . Hộ chiếu có đường lưỡi bò là cái cuối cùng lượng định chính xác tinh thần dân tộc, ý chí và bản lĩnh của những người có trách nhiệm cũng như đây là sự đo lường sau cùng niềm tin của toàn thể dân tộc đối với một chính sách đối ngoại đúng đắn của nhà cầm quyền CSVN.

Là con người, chẳng ai muốn lâm vào cảnh bước đường cùng. Là một dân tộc, bị ngoại bang ép đến cái thế tận cùng thì đúng là bức bách, ngột ngạt và đau đớn khôn cùng. Mọi sự nhân nhượng là có giới hạn. Chúng ta càng nhân nhượng quá mức thì ngay cả người Trung Cộng cũng buộc phải nghĩ là VN sai (?); chứ nếu đúng, sao VN lại không phản ứng? Hậu quả của sự nhân nhượng sai nguyên tắc sẽ đưa đến phương cách giải quyết không có lối thoát. Đọc Quan khí một cuốn tiểu thuyết của Trung Cộng, phải rùng mình đến rởn gai ốc vì những gì được diễn tả về mối liên quan với láng giềng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và xem phim Truyền thuyết Jumon của ĐạiHàn, sẽ nghiệm rất rõ rằng người Triều Tiên đã nhiều lần muốn nhân nhượng với người Hán nhưng không thể, bởi lũ Hán tặc đó sẽ bắt họ nhân nhượng mãi hoài cho đến chết (!). Chính vì Jumon và nhân dân Triều Tiên biết rõ điều này nên đế chế Tây Hán hùng mạnh đến thế chỉ thống trị được Triều Tiên có mấy chục năm!

Chẳng lẽ những người có trách nhiệm không hiểu cái SỰ THẬT rành rành mà không một người hiểu biết nào không hiểu hay sao?

Hà Văn Thịnh.

TUỔI TRẺ VIỆT NAM & CON TIM VIỆT TỘC


Cứu nước và dựng nước là sứ mệnh chung của toàn thể dân Việt. Nhưng nhìn vào những diễn biến thế giới nói chung và Việt Nam hôm nay, người ta phải nhận thức rằng, giới trẻ đang nắm vai trò then chốt trong cuộc vận động dân chủ. Riêng tại Việt Nam, giới trẻ đang bị cộng sản Việt Nam trấn áp, trù dập, nhưng đã có những người trẻ dám đứng lên, đem mạng sống thách đố với bạo quyền, đốt lên những ngọn đuốc sáng dân chủ và công lý. Có thể coi giới trẻ Việt Nam hôm nay là ý thức và con tim của dân tộc.

Tại hải ngoại, trước đây nhiều người trách cứ giới trẻ chỉ lo học hành tiến thân, không màng gì đến quê hương xứ sở, có khi còn xa nguồn mất gốc, đánh mất bản sắc dân tộc. Nhưng sau hơn 37 năm sống lưu vong, giới trẻ Việt Nam hôm nay đang thực hiện một cuộc trở về rất khích lệ. Tại hầu hết các trường Đại Học, người ta thấy lần lượt xuất hiện những hội sinh viên có tinh thần quốc gia dân tộc chân chính, đối đầu với những nhóm du sinh do cộng sản Việt Nam gửi đi và điều hướng. Người ta còn thấy xuất hiện những tổ chức thanh niên sinh viên tích cực dấn thân cho cuộc vận động dân chủ. Tiếng hát của Việt Dũng, Nguyệt Ánh, Lê Huy Phong, Lê Huy Phát, Trúc Hồ đang vang dậy như những tiếng chuông cảnh tỉnh, như tiếng gọi lên đường của giới trẻ Việt Nam hải ngoại hòa với nhịp tim dân chủ của giới trẻ trong nước.

Nhìn về giới trẻ trong nước, hẳn không ai dấu nỗi niềm phấn khởi vô bờ, với những tiếng nói bất khuất của Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến, Phương Uyên... Đáng nói nhất là tiếng hát từ đáy tim của Việt Khang "Anh là Ai?", "Việt Nam Tôi Đâu?" đang khơi động ý thức và con tim dân tộc, làm rung chuyển bộ máy đàn áp và tay sai của cộng sản Việt Nam hôm nay.

Dân Việt cũng cảm thấy một niềm phấn khởi vô bờ trước hiện tượng bừng vỡ ý thức và con tim của những thanh niên và trí thức Vinh, dám đem sinh mạng thách đố với bạo quyền, quyết nói lên tiếng nói của công lý và dân chủ. Trước đây, bản án bất công đã giáng xuống các thanh niên Đậu Văn Dương với 38 tháng tù, Trần Hữu Đức 38 tháng tù và Chu Mạnh Sơn 42 tháng tù đã làm thế giới bất bình. Mới đây, tòa án cộng sản Việt Nam lại áp dụng luật rừng, xử phạt 17 thanh niên trí thức Vinh tổng cộng trên 80 năm tù, về tội danh chống phá nhà nước, mà thực ra chỉ là đòi hỏi công lý và dân chủ, càng làm thế giới phẫn nộ lên án.
Một hiện tượng phấn khởi khác là sự bừng tỉnh của ý thức và con tim dân tộc trong giới trẻ đã được chế độ uốn nắn và đầu độc, tiêu biểu như các anh Nguyễn Chí Đức, Đặng Xuân Khánh và Bùi Chí Vinh.

Đặng Xuân Khánh, một sinh viên tại Việt Nam đã thẳng thắn nêu lên những câu hỏi lớn như những vấn nạn lịch sử đối với cộng sản Việt Nam về cuộc di cư năm 1954 của cả triệu người miền Bắc vào Nam chạy trốn cộng sản, về hiện tượng dân chúng chạy về phía quân đội Cộng Hòa thay vì bộ đội giải phóng trong các cuộc giao tranh. Anh cũng muốn hỏi tại sao khi miền Bắc đánh cho "Mỹ cút ngụy nhào" thì đồng bào lại bỏ nước ra đi? Và hôm nay, sau hơn 30 năm "giải phóng" mà dân Việt còn tìm cách bỏ nước, đi lao động nước ngoài hay thậm chí, đi làm dâu xứ người hay nô lệ tình dục để chạy trốn cộng sản? Nhất là Hà Nội đã gọi người Việt tỵ nạn là Việt kiều yêu nước, là khúc ruột ngàn dặm, sao họ không về Việt Nam mà làm công dân nước CHXHCN tiên tiến?

Nguyễn Chí Đức, một đảng viên trẻ, sau khi đem hết bầu nhiệt huyết phục vụ chế độ, đã nhận thấy bộ mặt thật của cộng sản, đã ly khai khỏi đảng và gia nhập phong trào tuổi trẻ chống ngoại xâm. Anh đã xuống đường biểu tình, hô vang khẩu hiệu chống Trung cộng và anh đã bị tên Đại Úy công an đạp vỡ mặt khi bước lên xe buýt tại Hà Nội! Hình ảnh man rợ đó, cũng như hình ảnh LM Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại tòa án nhân dân Huế Thừa Thiên là những vết nhơ đáng nguyền rủa trên bộ mặt tàn ác của Hà Nội.

Bùi Chí Vinh, một người trẻ khác từ Việt Nam, cũng rất lịch sự lên tiếng cảnh cáo lãnh đạo cộng sản bất lương hôm nay, coi chừng bị sức mạnh nhân dân quật ngã:
Quý vị như thế mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân
Hiện tượng bừng vỡ ý thức và con tim của những người trẻ trong lòng chế độ thật đáng cho chúng ta suy nghĩ và có thể thay đổi cái nhìn, mà trước đây, Hà Sĩ Phu và Đỗ Mạnh Tri đã cổ võ. Theo hai nhà lý luận trên, chúng ta đừng ngây thơ hy vọng rằng, rồi đây, giới trẻ Việt Nam, nhất là giới trẻ được chế độ gửi đi du học ngoại quốc sẽ làm cho cộng sản biến thể với những kiến thức dân chủ học được từ Tây Phương. Theo hai ông, mọi chuyện đã sắp xếp đâu vào đó. Con cháu đảng viên đã được chuẩn bị chu đáo để tiếp tục con đường độc tài toàn trị của cha ông. Thế là cánh cửa dân chủ sẽ còn khép kín lâu dài. Những diễn biến mới đây cho phép chúng ta lạc quan hơn và thẩm định lại lý luận của Hà Sĩ Phu và Đỗ Mạnh Tri, để tin tưởng rằng, hiện tượng ý thức và con tim bừng vỡ nơi giới trẻ trong lòng chế độ sẽ là yếu tố quyết định đưa tới những chuyển đổi chính trị một ngày không xa.
Để kết, người viết chỉ xin nhắc lại một chân lý "chế độ nào cũng sụp, chính quyền nào cũng đổ, chỉ có dân tộc mới trường tồn". Dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao sóng gió, đã trải qua bao bất hạnh từ đô hộ Bắc Phương, từ thực dân Tây Phương và từ cộng sản quốc tế mang vỏ dân tộc. Hôm nay, dân tộc Việt Nam đang chỗi dậy, đứng lên vươn vai theo ý thức và con tim Phù Đỗng của tuổi trẻ. Ngày sụp đổ của chế độ cộng sản bạo tàn đã gần kề. Ngày ra đi của tập đoàn lãnh đạo bất lương và phản bội cũng không còn xa. Một ngày gần đây, từ ngục tối thâm u, Việt Khang sẽ nghe vang dội tiếng hát "Việt Nam tôi đây"!

Ngô Quốc Sĩ.

søndag 27. januar 2013

Tâm Sự Của Một Người Ðau Khổ

 

Vợ chồng tôi định cư ở Mỹ vừa đúng 30 năm. Chúng tôi rất ít về Việt nam vì bà con chẳng còn mấy người. Nhưng đột nhiên khoảng hơn 2 năm trở lại đây, chồng tôi bỗng thường xuyên đi về VN đầy khó hiểu, lần gần nhất đã ở lại hơn 2 tháng.

Hỏi thì ông ấy bảo, về để tìm cơ hội làm ăn mà chẳng nói làm ăn cái gì, nhưng lần nào đi cũng mang nhiều tiền theo mà khi về thì hết sạch. Thời gian ở nhà, ông thường lên mạng ngồi Chat rất khuya và có nhiều cuộc điện thoại rất lâu, ông thường lén ra vườn ngồi nghe một mình làm tôi hết sức nghi ngờ. Sự nghi ngờ càng tăng khi ông nhạt hẳn chuyện gối chăn cùng vợ, cái nhạt nhẽo này rất khác thường so với trước, vì chúng tôi mới hơn 60 tuổi.

Tôi điện thoại về VN dò hỏi nhiều người quen thì được biết, ông cặp bồ với một phụ nữ không còn trẻ nhưng đẹp.

Tôi vội vã lấy vé bay về VN thì cũng là lúc chồng tôi trên đường về Mỹ.

Tôi ở lại VN gần một tháng lân la dò hỏi thì được biết người phụ nữ kia ở trong “Nhóm câu Sài gòn”, tức là câu người trên mạng. Tôi đã mất rất nhiều công sức và tiền bạc mới biết được nhóm này có khoảng 10 người, chuyên lên mạng sưu tầm các hình ảnh độc đáo, và những thông tin nóng mà nhiều người nước ngoài quan tâm rồi Post lên mạng và các diễn đàn. Từ đó nhóm này có vô số người quen khắp nơi thế giới. Mỗi người trong nhóm luôn có hàng ngàn địa chỉ để giao lưu quan hệ.

Tôi dấu mình không cho biết tôi từ Mỹ về, thật may mắn, tôi được giới thiệu và kết thân với 1 người trong nhóm. Lân la mãi, tôi được cô này cho xem cả xấp hình, trong đó có hình chồng tôi đi câu cá ở Bình Chánh, rồi tắm biển Nha Trang chung với cả nhóm. Nhờ thế, tôi biết rõ mặt người phụ nữ kia khi đang ôm chồng tôi. Cố dằn lòng, tôi vẫn tỉnh bơ như không quen biết ai trong những tấm hình trước mắt.

Khi hết sức thân, cô gái kia mới dốc bầu tâm sự. Đại khái cô cho biết, chúng em là những người tử tế, có ăn học và có nhà cửa đàng hoàng, chỉ tội nghèo.

Cô rất tự hào về chuyện “câu” của mình.
Cao hứng cô bóc trần mọi thứ:
“Chị tưởng ai cũng có thời gian suốt ngày trên Net ư?..”

Chị tưởng ai cũng đủ trình độ để sưu tầm những hình ảnh độc đáo và các tin tức nóng hay sao?...”

Những email em gởi là các mồi câu. Cả ngàn Mail gởi đi, bèo nhất cũng có vài chục phản hồi, bao nhiêu năm như thế chúng em có vô số bạn hữu, từ thân ít đến thân nhiều và rất thân.

Trong đó em sẽ lựa ra, con nào hám của lạ ( nhiều lắm) đủ mọi thành phần. Và em thường dành ưu tiên cho cá nước ngoài ( vì dễ dãi bạc tiền) luôn đặc biệt quan tâm đến loại vợ chết và nhất là loại cá già, cá càng già càng tốt và càng dễ câu. Nhưng thú vị nhất là loại vợ chết.

Đầu tiên là chat, kế tiếp là điện thoại và sau đó là hẹn gặp tại VN, em luôn thòng rằng : “Xin làm hướng dẫn viên miễn phí, mọi nơi mọi lúc”. Ít khi em chủ động gọi điện thoại lắm, vì tốn tiền, chỉ cần nhá máy, “cá” sẽ gọi lại ngay.

Em siêng chat lắm, có lần cùng một lúc phải chat với 4 – 5 cá, nhưng vẫn khỏe re.

Cô hào hứng huỵch toẹt:

“ Em đang là em tinh thần, là em kết nghĩa, là cháu dễ thương...” của rất nhiều cá nước ngoài. Cả là “người thương yêu dấu” hoặc là “cục cưng rất nhớ” của nhiều con cá lờ đờ đó chị ạ. Mỗi kỳ lễ, Tết hoặc Sinh nhật em đều có quà của cá từ các nơi, cá luôn hào phóng và rộng tay với bọn em.

Cá về, em đón. Cá đi em tiễn. Nhưng ngại nhất là vào tháng Tết này, nhiều cá về lắm, em rất lúng túng khi xếp lịch vì sợ cá đụng đầu, do đó, mỗi đứa bọn em luôn có ít nhất là 4 hoặc 5 số điện thoại. Sợ cá ghen khi thấy máy bận.

Bọn em có đứa đã mua được nhà, đã mua được xe xịn, còn đi du lịch đó đây thì là chuyện vặt.

Chợt giọng cô chùng xuống:

Bọn em đứa lớn nhất cũng trên 50 rồi, trong đó mấy đứa đã vướng HIV vì cá nước ngoài chẳng ai chịu dùng bao cao su ( cô chỉ ngay người phụ nữ trong hình đã cặp bồ với chồng tôi 2 năm nay). Mấy đứa này vừa đang uống thuốc vừa đang “trả thù đời”, chúng ngủ với bất cứ ai muốn chúng và nhất định không cho dùng bao.

“Nhóm câu SG” là tên kín đáo bọn em tự gọi cho vui, ít người biết lắm.

Vậy làm sao tránh được? Tôi hỏi.

Cô bảo: Không tránh được đâu, khó biết lắm. Vì bọn em là người đàng hoàng, có ăn học tử tế, có đứa còn là Phật tử thuần thành siêng lễ bái lắm chị ơi.

Tôi tối xầm cả mặt, ù hết cả tai khi nghĩ đến chồng tôi, không còn hơi sức đâu nghe tiếp phải lảo đảo đứng lên ra về.

Tôi trở lại Mỹ mà lòng tan nát. Ba ngày không nói với chồng một câu. Cuối cùng, chẳng thể mãi thinh lặng, tôi kể hết với ông những chuyện tôi biết về “Nhóm câu SG” và yêu cầu ông đi xét nghiệm máu. Mới đầu ông nổi giận ghê gớm và quát nạt kinh khủng. Quá chán nản, tôi chẳng nói lại nửa lời. Sau đó, tôi lẳng lặng thu xếp áo quần về ở với con trai lớn hơn 1 tháng trời. Trong thời gian này, ở nhà ông ấy đi xét nghiệm máu : Kết quả DƯƠNG TÍNH HIV. Dù đã đoán trước nhưng tôi vẫn bàng hoàng đổ sụp và nghĩ đến bản thân mình.

Ba tháng sau mới lấy lại được thăng bằng, tôi đi xét nghiệm, kết quả cũng như chồng tôi DƯƠNG TÍNH HIV.

Tôi có 2 trai và 2 gái đều trưởng thành. Tôi không biết vi tính, không có nickname, phải nhờ con gái viết lại chuyện buồn của mình gởi các diễn đàn, chỉ với mong ước các diễn đàn tiếp tục phổ biến, đến càng nhiều càng tốt, sao cho mọi người cảnh tỉnh, đừng để ai vướng phải bất hạnh như gia đình tôi.

Đó là tâm nguyện của tôi, xin các diễn đàn giúp tôi hoàn thành tâm nguyện cuối đời của mình.

Người phụ nữ bất hạnh.