fredag 14. desember 2012

Chiếc Còng Khóa Miệng


Người dân Việt trong và ngoài nước đang sôi sục trước hành vi ngang ngược trắng trợn của Bắc Kinh nhằm lấn chiến biển đảo nước ta. Từ giữa tháng 5 năm 2012, Trung Công đã ngang nhiên in hình lưỡi bò trên sổ thông hành cho người dân Trung Quốc. Đây là một hành vi rất thâm độc có tính toán, trong chuỗi động thái nhằm đặt sự việc lấn chiếm Biển Đông của nước ta thành một việc đã rồi. Từ sáu tháng qua đã có bao nhiêu người Tàu vào nước ta bằng sổ thông hành ấy, và bao nhiêu người Tàu khác vào nước ta mà chẳng cần thứ giấy tờ gì, có ai biết không? Sự kiện sổ thông hành in bản đồ Trung Cộng bao gần trọn Biển Đông, và một vùng biên giới thuộc Ấn Độ chỉ được thế giới biết đến vài tuần nay do hãng tin Reuters nêu ra.

Câu hỏi người dân Việt Nam thắc mắc là tại sao bộ ngoại giao và tòa đại sứ của nhà cầm quyền CSVN có biết sự kiện ấy không? Nếu không biết thì các viên chức ngành ngoại giao và các cơ quan an ninh, tình báo của nhà nước, lãnh lương nhà nước mà trở thành vô dụng. Nếu biết sao không lên tiếng, hay miệng đã bị cái còng khóa, nên không nói ra tiếng chăng? Trong khi Ấn Độ đã phản ứng quyết liệt bằng cách đóng dấu có bản đồ lãnh thổ của mình lên thông hành của Trung Cộng. Còn Philippines thì thẳng thừng từ chối cấp chiếu khán, đồng thời mạnh mẽ tố cáo hành vi ngang ngược của Trung Cộng trước cộng đồng quốc tế. Ngay cả Đài Loan cũng nặng lời chỉ trích Trung Hoa lục địa vi phạm công ước quốc tế về luật biển.

Ai theo dõi những biến động trong vài tuần qua cũng thừa biết rằng Bắc Kinh nhắm dằn mặt đàn em Hà Nôi, và muốn thử lòng trung thành của kẻ bề tôi đã cúc cung phụng mệnh trên 60 năm qua, nay thấy có dấu hiệu muốn cưỡng lại lệnh của quan thầy. Đồng thời cũng muốn thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ mới của TT Obama khi cường quốc này đang chuyển trục sức mạnh từ Đại tây Dương sang Thái Bình Dương.

Sau phép thử thử sổ thông hành có đường lưỡi bò, thấy Hà Nội vẫn ngoan ngoãn im re, Bắc Kinh nhấn thêm một bước nữa, là tuyên bố từ đầu năm 2013 cảnh sát biển của Trung Cộng sẽ khám xét và ngăn cản các tàu bè đi vào vùng lãnh hải của Trung Cộng. Hành động này chẳng khác nào cảnh sát biên phòng khám xét và ngăn chặn các người di dân bất hợp pháp xâm nhập vào lãnh thổ nước mình. Trung Cộng chứng tỏ quyết tâm chiếm đoạt Biển Đông trong ấy đã lấn sát vào thềm lục địa Việt Nam. Như thế từ nay hàng triệu ngư dân Việt Nam sẽ không thể ra khơi đánh cá; giữa lúc ấy Trung Cộng cho hàng chục ngàn tàu thuyền tràn ngậy Biển Đông để vơ vét hải sản và uy hiếp ngư dân Việt Nam, nhưng Hà Hội vẫn im tiếng hay chỉ ú ớ nói qua loa cho có lệ.

Chưa hết, vào ngày 30 tháng 11 vừa qua, Trung Cộng đã cho tàu bè xâm nhập hải phận nước ta, và ngang nhiên cắt cáp thăm dò địa chất của tàu Bình Minh 2 ngay trong vùng đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị. Ấy thế mà Hà Nội vẫn lặng thinh.

Tháng trước, cái gọi là quốc hội Việt Nam đã có phiên họp để thảo luận về vấn đề Biển Đông, nhân dân cả nước mong chờ các nhà lập pháp, các vị dân cử của mình sẽ có được những biện pháp làm phấn khởi người dân. Nhưng tiếc thay, đó lại là phiên họp kín, và sau phiên họp, chẳng ai nghe động tĩnh gì. Té ra cái Quốc Hội đại biểu của nhân dân, nhưng phải họp kín và phải chờ lệnh của Bộ Chinh Trị cho phép được phép làm gì và nói gì!

Người dân phải lý giải những sự kiện vừa kể trên thế nào, nếu đem so sánh cách hành xử của các quan chức nước mình với các nước láng giềng trước hành động lấn nước của Trung Cộng. Rõ ràng là nó quá khập khiễng, quá chênh lệch, thật không tương xứng với một quốc gia mà trên mọi văn bản đều in khẩu hiệu: độc lập, tự do, hạnh phúc.

Nếu nước ta có độc lập sao nhà nước không lên tiếng về sự xâm lấn biển đảo đất đai, là giang sơn do xương máu của cha ông đổ ra để tạo dựng. Và tại sao ngăn chận, đánh đập, giam cầm những người lên tiếng chống kẻ ngoại xâm?

Nếu có tự do, tại sao ngăn cấm người dân bày tỏ lòng yêu nước, cấm đoán, tước đoạt các quyền tự do căn bản của con người.
Rõ ràng chúng ta đã mất hết chủ quyền ngay trên quê hương mình. Dân chúng VN cũng mất các quyền tự do căn bản mà người dân trong một quốc gia bình thường phải có. Không có độc lập và tự do thì làm gì còn có hạnh phúc.

Các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng phải giải thích cho người dân trong và ngoài nước biết tại sao chính phủ do các ông độc quyền nắm giữ lại không dám lên tiếng về những hành vi ngang ngược của Trung Cộng? Nếu các ông vẫn im lặng thì chỉ còn cách lý giải là, hoặc các ông đã bị câm, hai là cái còng mà các ông đã dùng để khóa miệng những tù nhân trước đây, thì nay quan thầy Trung Cộng đang dùng để khóa miệng chính các ông. /.

Trong các trại tù CSVN dựng lên để giam giữ những quân, dân, cán chánh của Việt Nam Cộng Hòa trước đây có nhiều loại xiềng xích, cùm kẹp để khóa chân tay tù nhân. Vì bị cùm kẹp không xoay xở nhúc nhíc thân mình được, nên tù nhân chỉ còn lại một vũ khí là cái miệng để ca hát, cười đùa, chế diễu CS. Vì vậy CS đã chế ra một loại còng để khóa miệng tù nhân không cho nói ra thành tiếng. Người dân trong nước và hải ngoại lấy làm lạ tại sao bạo quyền Hà Nội cũng đang bị ai khóa miệng nên không thấy nói những điều cần phải nói. 

Hải Nguyên.

onsdag 12. desember 2012

Những Thương Ðau Bất Hạnh


Kính mời quý vị vào đây xem: 
https://www.youtube.com/watch?v=JoEVJVKlMwQ

Những thương đau Bất Hạnh dưới chế độ CSVN

søndag 9. desember 2012

Kỷ Niệm 64 Năm Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền





Nhân quyền là vấn đề trung tâm trong những cuộc tranh luận chính trị trên thế giới ngày nay.  Nhân quyền nêu ra những tiêu chuẩn để căn cứ vào đó mà chúng ta thẩm  định giá trị của một xã hội, thẩm định quan hệ giữa nhà nước và một cá nhân, thẩm định quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng thế giới và thẩm định quan hệ giữa luật pháp quốc gia và luật quốc tế.

Địa bàn tranh luận về nhân quyền thường xảy ra trong Liên Hiệp Quốc vì tổ chức này là tổ chức duy nhất có phương tiện, khả năng và uy tín để lôi cuốn sự chú ý của thế giới mỗi khi có những biến cố bất thường xảy ra, hoặc có những khó khăn cần điều chỉnh hay giải quyết.
                                                                                                                                   
Sau Thế Chiến II, Liên Hiệp Quốc được thành lập.  Trong bản Hiến Chương công bố vào năm 1945, tổ chức quốc tế này xác định:  Lòng tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị của mỗi cá nhân, vào sự bình đẳng giữa nam nữ của tất cả các quốc gia không phân biệt kích thước lớn nhỏ.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền công bố ngày 10/12/1948 là một bộ luật nhân quyền của  nhân loại.  Vì có những tiếng nói yêu cầu nhân quyền phải được bảo vệ bằng luật pháp nên bản tuyên ngôn đã ra đời.  Nội dung của bản tuyên ngôn là một công trình tổng hợp, sau khi tham khảo các tư tưởng của Tây Phương, Marx-Lenin, và  các tập tục khác trong cộng đồng nhân loại.

Nói khác, Tuyên Ngôn là một tác phẩm do nhiều nền văn hóa tạo nên: Người Tây Phương chú trọng đến các quyền dân sự, chính trị và tự do cá nhân; người Sô Viết quan tâm đến các quyền kinh tế và xã hội; người Mỹ La Tinh chủ trương pháp trị; người Scandinavian đòi hỏi bình đẳng giữa nam nữ; người Ấn Độ và Trung Quốc bác bỏ mọi hình thức kỳ thị; đại diện của một số nước khác tranh đấu cho tự do tôn giáo.
 
Trước công tâm và cố gắng nói trên của nhân loại, một vài ý kiến phá hoại vẫn xảy ra.  Cho nên ý kiến chung là phải có một bộ luật quốc tế về nhân quyền để ràng buộc và chính vì thế mà các công ước quốc tế về nhân quyền đã ra đời:  Công ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị (International Covenant On Civil And Political Rights, ICCPR) và Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội Và Văn Hóa (International Covenant On Economic, Sociial And Cultural Rights, ICESR).  Hai công ước này đã cho nhân quyền một sức mạnh như chưa bao giờ có về tính hợp pháp và về mặt ngoại giao.

Tiếp theo hai công ước nói trên là sự xuất hiện của một số không nhỏ của nhiều công ước khác:  Công ước cấm tra tấn, công ước bảo vệ những người tị nạn chính trị, công ước bài trừ kỳ thị chủng tộc và những hình thức kỳ thị khác, công ước bảo vệ lao động, công ước bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Việc ký kết những công ước này không găp khó khăn nhưng khó khăn lại xuất hiện khi đem nội dung của những công ước này ra thi hành trong thực tế.

Vấn đề định nghĩa nhân quyền:

Nhân quyền là một ý niệm được đưa ra để nâng cao nhân phẩm và những thuộc tính (attributes) của con người trong sinh hoạt xã hội, nhằm tạo ra một sự thoải mái cho một cuộc sống đáng sống.  Nhân quyền bảo vệ những thuộc tính đó và công khai kêu gọi nhân loại đặt ưu tiên cao cho nỗ lực bảo vệ này.

Từ nhiều thế kỷ nay, nhân quyền đã xuất hiện dưới hình thức các đạo luật và tập tục để bảo vệ con người bình thường , các nhóm người trong xã hội, các dân tộc thiểu số, các chủng tộc, chống lại sự hà hiếp của những người cai trị.  Nhân quyền đã xuất hiện trong sinh hoạt xã hội như những quyền của cá nhân, có tính phổ quát và bất khả chuyển nhượng.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền kêu gọi mọi người phải có trách nhiệm và bảo vệ nhân quyền, nên chính vì lý do này mà nhân quyền mang tính phổ quát.  Còn nói về tính bất khả chuyển nhượng thì phải hiểu rằng, nếu trường hợp chuyển nhượng thật sự xảy ra thì cuộc sống của con người không còn là một cuộc sống  đầy đủ và toàn vẹn theo như bản chất của nó nữa.
 
Trước Thế Chiến II, thuật ngữ nhân quyền dùng để chỉ các quyền dân sự và chính trị.  Các quyền này được gọi là những quyền của “thế hệ thứ nhất” (first generation rights).  Các quyền kinh tế, xã hội, và văn hóa, sau đó được gọi là những quyền của “thế hệ thứ hai”.  Tới năm 1986 ̉ thì xuất hiện một quyền thưộc “thế hệ thứ ba”.  Đó là quyền được phát triển (right to development).

Bản Tuyên Ngôn năm 1986 công nhận quyền được phát triển, công nhận con người là đối tượng chính yếu, đồng thời là kẻ tham gia và là kẻ thừa hưởng duy nhất của quyền này.  Tuyên ngôn cũng nhấn mạnh đến tính bình đẳng của nhân quyền và coi sự vi phạm nhân quyền như là lực cản chính yếu cho vấn đề phát triển.
                                                            
Vấn đề định nghĩa nhân quyền cần thiết để biết rõ đặc tính của mỗi loại.  Trước tiên phải nhận định rằng các quyền dân sự (civil rights) chỉ liên quan đến cá nhân chứ không phụ huộc điều kiện xã hội.  Các quyền kinh tế, trái lại, liên quan đến vấn đề lao động, vấn đề công ăn việc làm, và vấn đề được thù lao công bằng.  Quyền xã hội đòi hỏi ở nhà nước quyền được hưởng an sinh xã hội, giáo dục và chăm sóc y tế.  Quyền văn hóa chưa được xác định rõ rệt lắm nhưng đại để nó gồm các quyền liên quan đến những người bản xứ (indigenous people).

 Ngoài những quyền liên quan đến cá nhân như đã trình bày ở trên còn có những quyền liên quan đến tập thể.  Quan trọng nhất là quyền tự quyết (self-determination).  Các quyền này đưa đến hậu qủa là quốc gia có quyền lựa chọn chính sách riêng của mình và lựa chọn hình thái chính quyền mà mình muốn. 

Có ý kiến cho rằng ý niệm nhân quyền có một phạm vi áp dụng quá rộng.  Như thế nó làm mất ý nghĩa của thuật ngữ này.  Nhưng nhiều người khác lại có một nhãn quan ngược lại.  Những người này cho rằng: “Nhân Quyền ngày nay không còn mang ý nghĩa là những điều kiện tối thiểu cần thiết cho nhân phẩm của con người, mà thực sự đã bao gồm tất cả những gì có thể coi như là cần thiết cho sự phát triển của con người”.

Nhìn vào thực tế của sự bảo vệ nhân quyền trên thế giới hiện nay người ta thấy rằng sự bảo vệ đó chưa đúng mức. Bộ máy bảo vệ nhân quyền đang còn ở trong tình trạng thai nghén , và còn cần được cải tiến và cải thiện rất nhiều.

Đối với trách nhiệm cải thiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, nhà nước có thể kêu gọi sự hợp tác của các tổ chức tư nhân.  Còn đối với việc tôn trọng các quyền dân sự và chính trị, nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề hợp hiến, pháp trị và bầu cử ngay thẳng,

Tại Á Châu ngày nay tệ nạn chính trị thông thường nhất là việc lợi dụng ý niệm chủ quyền quốc gia và lý do an ninh như những tấm lá chắn đễ vi phạm nhân quyền. 

Nguyễn Cao Quyền.

Buổi Thắp Nến Ngày Quốc Tế Nhân Quyền




Có gần 150 đồng hương tụ họp trước Quốc Hội dưới cái lạnh -16 độ C vào lúc 14 giờ, thứ bảy ngày 08-12-2012 trang nghiêm trong nghi thức chào Na Uy kỳ và Quốc kỳ để khởi sự cho buổi thắp nến nhân kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền.

MC Nguyễn Angela Trang, là người bạn trẻ điều hướng buổi thắp nến này. Trước hết cô Angela Trang ngỏ lời chào mừng và cám ơn tất cả người tham dự, vì quan tâm đến hiện tình đất nước nên đã bỏ thì giờ tụ tập tại nơi đây, dưới cái lạnh cay nghiệt của buổi chiều hôm nay. Angela Trang nói: "Na Uy lạnh, nhưng tim chúng ta không lạnh, tình người không lạnh. Xin hãy dùng chính con tim của mỗi chúng ta để sưởi ấm cho những người yêu nước ở quê nhà...".

Lời phát biểu cảm tưởng của anh Trần Hồ Chánh Trung, Hội trưởng Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Na Uy. Qua đó anh Trung nói: "Chúng ta đang chuẩn bị đón mừng Giáng Sinh, nhưng trong tim của mỗi người đang hiện diện tại nơi đây không hề yên ổn khi nhìn về đất nước Việt Nam thân yêu, đồng bào chúng ta vẫn còn đang bị đày đọa bởi một chế độ độc tài đảng trị. Tình trạng bắt bớ, cầm tù những nhà bất đồng chính kiến ngày càng tồi tệ, Nhân Quyền bị chà đạp ngày càng trắng trợn... Sự hiện diện của chúng ta hôm nay đã nói lên được nỗi quan tâm sâu xa cho người dân thấp cổ bé miệng trong nước, cho Nhân Quyền Việt Nam...".

Sau ca khúc "Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói" do người bạn trẻ Thiên Lập hát, lần lượt mỗi người một ngọn nến đặt quanh linh hồn mẹ Việt Nam, như đang ôm ấp những trái tim nhỏ bé trong vòng eo chữ S. Bà Erna Solberg, Chủ tịch đảng Hữu Khuynh (Hoeyre Parti) được mời lên phát biểu. Trước hết bà Erna ca ngợi sự dấn thân đòi hỏi Nhân Quyền cho Việt Nam của người Việt tỵ nạn tại Na Uy. Bà lên tiếng tố giác nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không tôn trọng Nhân Quyền, đồng thời bà cũng không chấp nhận sự bắt bớ cách tùy tiện đối với các nhà bất đồng chính kiến. Bà Erna nhấn mạnh rằng chính phủ Na Uy cần đặt điều kiện nhiều hơn nữa về lãnh vực Nhân Quyền khi đối thoại với Việt Nam, vì qua các cuộc đối thoại Nhân Quyền hàng năm mà chính phủ Na Uy tổ chức, nó đã không cải thiện được gì cho hiện trạng Việt Nam cả. Cuối lời phát biểu, bà Erna mong muốn người dân Việt Nam phải có tự do và dân chủ thật sự.

Sau bài ca "Việt Nam - Việt Nam" được mọi người đồng thanh hát lớn là phần chiếu dương ảnh về chiến dịch "Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói". Kế đó, anh Huỳnh Thiên Hải tường trình về buổi tiếp kiến và trao Thỉnh Nguyện Thư lên Bộ Ngoại Giao ngày hôm qua đến với đồng hương.

Tâm tình của Lyly Chế, người con gái tròn 30 tuổi lớn lên ở Na Uy. Nhịp sống và sự hội nhập vào xứ sở Na Uy dĩ nhiên cô không bận tâm, nhưng món "phở" thuần túy Việt không làm cho Lyly quên cội nguồn Việt...

Những bài nhạc đấu tranh sau đó được mọi người đồng thanh cất cao để kết thúc buổi thắp nến lúc 15 giờ cùng ngày trong tinh thần phải nói lên những điều mà người dân trong nước không được nói. 

Được biết, buổi thắp nến có các đồng hương từ các địa phương xa xôi đổ về như: Lillehammer, Sandefjord, Drammen, Jessheim, Moss, Dilling... cùng các vùng ngoại ô Oslo; đặc biệt có một đồng hương đến từ Bỉ quốc. Trước giờ khai mạc lễ thắp nến đông đảo đồng hương, nhất là các bạn trẻ, xuống đường xin chữ ký "Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói"; kết quả thu nhận  được 439 (bốn trăm ba mươi chín) chữ ký trong hơn 1 tiếng đồng hồ.

Trong bữa cơm gây quỹ để hỗ trợ cho 13 thanh niên Công Giáo bị cầm tù tại quê nhà, sau khi kết toán sổ sách chi trả nhà hàng, Ban Tổ chức có số tiền thu được là 10.306 kr (mười ngàn ba trăm lẻ sáu kroner).

Phạm Sĩ Việt.


fredag 7. desember 2012

Ai Thắng Ai ?

Ngay sau ngày 30 tháng Tư đen tối, người Miền Nam chua chát bảo: Miền Nam nhận họ. Miền Bắc nhận hàng! Câu nói chua chát nhưng thục tế là như vậy. Đặt cái tựa như trên thấy có vẻ phân biệt Bắc-Nam, nhưng thực tế tiếc thay là như vậy!
Sở dỉ nhắc lại câu trên là để ôn cố, tri tân. Nhắc chuyện xưa dẫn đến chuyện nay: Cọng sản, duy vật, vô thần thắng? Hay người Quốc gia/ Truyền thống Dân tộc thắng? Theo đạo lý, “ Nhu thăng cương. Nhược thắng cường.”
Cũng là để nhắc nhở giới trẻ hiện nay đang dần thân tranh đấu vì công bằng, đạo lý, tin tưởng vào lẽ tất thắng “ Nhân nghĩa thắng hung tàn “ theo truyền thống dân tộc.
Những ngày cận kề ngày oan nghiệt 30 tháng Tư, chiếc phi cơ quân sự Hercule Mỹ hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhứt bốc xuống 6 khẩu pháo Howitzer 105 ly với cấp số 18 viên đạn cho mỗi khẩu! Mượn cớ tiếp vận cò con để chở đi khí cụ cao cấp của cơ quan Viện trợ Quân sự Mỹ, tục gọi DAO (Defense Assistance Office).
Cũng trong những ngày ấy, một buổi chiều, ông có bút hiệu Tiểu Tử, chức việc hảng xăng dằu Nhà bè, bỏ sở về, gục khóc nức nở trên vai vợ hiền, khi “người ta” từ chối không cho chiếc tàu chở xăng tiếp tế cho Không lực VNCH từ Singapour tiến vào Việt Nam.
Cũng trong những ngày ấy, khi đêm về, chiếc đồn đơn côi Quận Định Quán kêu cứu, yêu cầu pháo yểm. Pháo đội khai hỏa 3 phát rồi ngưng vì chỉ còn đủ đạn để phòng thủ vị trí!
Phi yểm? Làm sao còn xăng để tiếp cứu chiếc đồn nhỏ trên núi rừng Xuân Lộc xa xăm?!

Về phía bên kia, 5 Quân đoàn với chiến xa và pháo đủ cở với đầy đủ đạn dược rùng rùng tiến vào Nam như đi du lịch không cần phòng thủ trên không vì Mỹ đã cam kết không can thiệp còn Không lực VNCH đã cạn hết xăng dầu.
Ngày gọi là Đại thắng Mùa Xuân 75, trên vệ dường Saigon có một nữ cán binh cs ngồi khóc nức nở: Nhà văn Dương Thu Hương rơi nước mắt cho thân phận, tuổi thanh xuân bị tiêu phí vì bị đảng lừa gạt. Cũng khóc cho Miền Nam văn minh bị lũ man rợ dày xéo phủ phàng!
Cũng từ ngày ấy, dân gian Miền Nam có câu ca dao mới:

Nam kỳ khởi nghĩa, tiêu Công Lý
Đồng khởi, vùng lên, mất Tự Do

Cũng từ dạo ấy, người dân vùng căn cứ “cách mạng” Củ Chi chua chát ngâm nga;

Ngày xưa Đất Thép Thành Đồng
Ngày nay đất thép hóa ra thành bùn

Người dân bình thường than thở:

Thời VNCH cái gì cũng có
Thời HCM mua cây đinh cũng phải sắp hàng

Ngày thân nhân từ Miền Bắc vô Nam, thấy họ hàng còn ở Saigon, chép miệng bảo: Sao không chạy đi Mỹ cho lẹ?!
Ngày người tù Miền Nam đi đày ra Bắc, có khi gặp các cụ lớn tuổi thường bị quở: Ngoài nầy, trông ngóng các ông ra giải phóng. Hóa ra các ông lại thua trận, bị đày ra đây. Tội nghiệp!
Mà nào ai biết ai tội nghiệp hơn ai? Bởi vì các bác già cả đời chịu đựng gông cùm, bạo ngược, còn các chàng trai trẻ Miền Nam, dẫu mai sau có lẽ nào chăng nữa thì cũng đã từng trải qua một thời oanh liệt.
Tôi không ngại ngùng gì khi nhắc đi, nhắc lại “ Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau,” hoặc “ Thanh niên là rường cột của Quốc gia,” hoặc “ Thanh niên là người chủ tương lai của Đất nước.”

Trước đây một năm, ít ai tưởng tượng được, chỉ một sớm, một chiều mà dấy lên các phong trào tranh đấu chống bạo quyền.
Vậy mà mùa hè năm ngoái, đích xác là ngày 5 tháng 6 năm 2011, trên hai ngàn dân Đồng Nai, Bến Nghé ở Saigon cùng lúc trên một ngàn đồng bào Cố Đô Thăng Long nhất tề vùng lên, dỏng dạc cất cao lời yêu nước chống Tàu xâm lăng, bất chấp sự đàn áp tàn bạo của cường quyền bán nước, hại dân! Đi đầu và chịu đánh đập, băt bớ chính là các thanh niên nam,nữ, tuổi trẻ Việt Nam.

Tiếng bom, tiếng súng hoa cải Tiên Lãng là từ gia đình nam, nữ của người trung niên Đoàn Văn Vươn, liều thân chống lại cường hào cướp nhà, cướp ao, đầm, tuyệt đường sinh kế. Đây là những người tiếp nối truyền thống ' hào kiệt “ của tổ tiên!

Ai là người đổ máu trên cánh đồng Văn Giang, Vụ Bản? Tiêu biểu là người phụ nữ có tên mộc mạc Ngô Thị Ánh!

Và còn ai nữa... Những Việt Khang, Minh Hằng, Minh Hạnh, Huy Chương, Quốc Hùng và còn nhiều nữa...vừa mới đây là cô gái nhỏ Nguyễn Phương Uyên...

Vậy đó, tương lai là thuộc về giới trẻ. Một khi mà giới trẻ nhận thức được sụ cách biệt giữa thể chế “nhân bản” truyền thống dân tộc và chế độ độc tài, toàn trị bạo ác, bất nhân thì cuộc chiến giũa “thiện”, 'ác” sẽ đi vào kết cuộc dù là bao nhiêu lâu chăng nữa.
Nhìn chung, giới trẻ đã xác nhận được hướng di: Tìm lại “ Tinh thần Dân tộc.”
Muốn được như vậy, xin cùng nhau đọc Bình Ngô Đại Cáo:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo “ (*)
“ Đem Đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy Chí nhân mà thay cường bạo”
Nguyễn Nhơn.
(*) Ghi chú: “Quân điếu phạt” mang ý nghĩa tiến hành Cách Mạng Dân tộc, “vì dân khử bạo.”

 

Tuổi Trẻ Việt Nam Với Vận Mệnh Ðất Nước


Trong công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, tự do và dân chủ của Việt Nam, hình ảnh của những người phụ nữ luôn nổi bật. Họ có thể là những blogger với những bài viết sắc sảo hay là những người luôn có mặt trong tuyến đầu của những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Mặc dù họ được cho là phái yếu, nhưng sự cản đảm, dũng cảm trước sự sách nhiễu, bắt bớ và cầm tù của chính quyền cho thấy họ là những phụ nữ mạnh mẽ. Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam đã quyết định trao giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2012 cho ba người phụ nữ dũng cảm. Đó là Phạm Thanh Nghiên, đã từng bị kết án 4 năm tù và hiện nay đang phải chịu 4 năm quản chế. Tạ Phong Tần đã bị xét xử sơ thẩm với mức án 10 năm tù, Huỳnh Thục Vy, tuy chưa chịu cảnh tù đày, nhưng bản thân cô và gia đình đã phải chịu biết bao sự sách nhiễu từ chính quyền địa phương. Ba người phụ nữ ở ba vùng miền khác nhau của đất nước, họ có hoàn cảnh gia đình, văn hóa, giáo dục khác nhau. Nhưng họ có một điểm chung đó là có tinh thần yêu nước, có trách nhiệm với đất nước và dân tộc. Bằng sự can đảm của mình, họ đã và đang nói lên nhưng bất công mà người dân Việt Nam đang phải gánh chịu và những khát vọng tự do dân chủ của mọi người dân Việt Nam.
Việc họ được trao giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2012 là hoàn toàn xứng đáng.

Việt Nam cần phải thay đổi để có thể đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi người dân. Nhưng muốn sự thay đổi diễn ra nhanh chóng để đáp ứng nguyện vọng và mơ ước của nhân dân thì chúng ta cần rất nhiều những người dũng cảm, sẵn sàng hy sinh tự do và hạnh phúc cá nhân của mình để đấu tranh cho nhân quyền, tự do và dân chủ.
Trong bất kỳ xã hội nào thì từng lớp thanh niên, sinh viên và trí thức luôn là động lực để thay đổi xã hội. Một đất nước còn những bất công, tham nhũng thì một phần nguyên nhân do thế hệ trẻ đã không quan tâm và thờ ơ với vận mệnh của dân tộc. Sự lãnh cảm của thế hệ trẻ với tình trạng của đất nước đem lại sự bất hạnh cho dân tộc.
Vượt qua nỗi sợ hãi, thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay phải đóng vai trò quan trọng và tích cực trong việc thay đổi xã hội. Và để thay đổi được xã hội thì bước đầu tiên là phải thay đổi nhận thức. Chúng ta cần phải nhận thức rằng tự do và dân chủ là tiền đề, là điều kiện then chốt để xây dựng xã hội tiến bộ. Không có tự do dân chủ thì quyền lực và của cải của nhân dân sẽ bị từng lớp quan chức tha hóa chiếm đoạt và tham nhũng. Họ sẽ biến của cải, tài sản quốc gia thành tài sản riêng và phục vụ cho gia đình và bản thân họ.
Ngày nay, công nghệ thông tin hiện đại đã giúp cho mọi người ở trong cũng như ngoài nước dễ dàng trao đổi và thông tin qua lại. Thế hệ trẻ Việt Nam cần phải sáng tạo để phát huy tối đa lợi thế của công nghệ thông tin để giúp nhau cùng hiểu biết và cùng tiến bộ. Tạo sự liên kết và cùng nhau thực hiện các quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng và quyền biểu tình để thay đổi xã hội theo hướng dân chủ tiến bộ.
Chúng ta cũng mong rằng các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, chính phủ, quốc hội các nước sẽ dành nhiều giải thưởng hàng năm cho những người dũng cảm và có thành tích xuất sắc trong công cuộc vận động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Điều này sẽ cổ vũ và khích lệ to lớn cho phong trào dân chủ còn non trẻ ở trong nước.
Chúng ta hy vọng và tin tưởng rằng thế hệ trẻ Việt Nam ngày hôm nay sẽ đóng vai trò quyết định trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam xây dựng chế độ xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
 
Nguyễn Văn Đài.

Mạn Ðàm Về Chính Phủ Lưu Vong

 

Chính Phủ Lưu Vong  bao lâu nay là đề tài nóng bỏng của người Việt hải ngoại, vì mới đây có thêm Chính Phủ Lưu Vong Việt Nam tại Hoa Kỳ ra đời. Bài viết này sẽ tìm hiểu mục tiêu và hoạt động của những tổ chức này nói chung và của Việt Nam nói riêng.

Thế chiến thứ II đã chứng kiến một số chính phủ lưu vong được thành lập và hoạt động phần lớn tại Âu châu. Trong số đó phải kể đến Pháp, Hòa Lan, Ba Lan, Tiệp Khắc, Na Uy, Luxemburg, Yugoslavia, Hy lạp, và Phi Luật Tân. Vì giới hạn về khuôn khổ của bài viết này, chúng ta sẽ chỉ tìm hiểu một vài chánh phủ lưu vong trong thời kỳ này.

Vì bài viết cùng sự phân tách của ông Nguyễn Quốc Khải quá rộng có những điểm không liên quan đến tình hình Á Châu và Việt Nam, nên tạm rút ngắn qua các phần chính sau đây: 

Những chính phủ lưu vong trong thời kỳ hiện đại:
Trong giai đoạn hiện nay, vẫn có một số chính phủ lưu vong trên thế giới. Đáng nói đến là hai chánh phủ lưu vong Tây Tạng và Miến Điện. Trung Tâm Hành Chánh Tây Tạng (Central Tibetan Administration – CTA) thường được gọi là chính phủ lưu vong Tây Tạng, được thành lập vào năm 1959 tại Dharamshala, Ấn Độ do Đức Dalai Lama thứ 14 lãnh đạo. Ngài cùng với đa số các vị bộ trưởng đã di tản an toàn ra khỏi Tây Tạng sau cuộc nổi dậy đẫm máu chống sự cai trị của Trung Quốc thất bại. CTA xem Tây Tạng là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt và sự chiếm đóng quân sự của Trung Quốc là bất hợp pháp. Tuy nhiên mục tiêu tranh đấu hiện nay của chính phủ lưu vong Tây Tạng là một quy chế tự trị thật sự.
Mặc dù được tổ chức như một chánh phủ, CTA tuyên bố rằng CTA sẽ không nắm chính quyền tại Tây Tạng mà trái lại sẽ giải tán một khi tự do được phục hồi tại Tây Tạng. Chính quyền Tây Tạng sẽ phải do người Tây Tạng ở trong nước chọn lựa. Chức vụ thủ tướng lúc đầu được Đức Dalai Lama bổ nhiệm, nhưng kể từ 2001, chức vụ này được cử tri Tây Tạng bầu theo thể thức dân chủ. Kể từ tháng 3, 2011, theo sự yêu cầu của Đức Dalai Lama, hiến chương Tây Tạng được thay đổi để ngài không còn giữ trách nhiệm về chính trị. Do đó, chức vụ cao nhất hiện nay của chính phủ lưu vong Tây tạng là Thủ tướng.
CTA chăm lo về vấn đề an sinh cho cộng đồng Tây Tạng tị nạn tại Ấn Độ gồm khoảng 100,000 người. CTA quản trị trường học, cơ sở y tế, sinh hoạt văn hóa, cơ sở thương mại, và những dự án phát triển kinh tế cho cộng đồng Tây Tạng với sự thỏa thuận của chính phủ Ấn Độ. CTA phát hành cuốn sổ xanh lá cây cho tất cả những người dân Tây Tạng sống ở hải ngoại. Cuốn sổ này chứng nhận quốc tịch và sự đóng góp tình nguyện cho CTA. Ngoài ra CTA còn phát hành cuốn sổ mầu xanh da trời cho những ai trên 18 tuổi không phải là công dân Tây Tạng nhưng ủng hộ Tây Tạng.
Chánh phủ lưu vong Tây Tạng không được chính phủ nào trên thế giới công nhận chính thức. Tuy nhiên chánh phủ lưu vong Tây Tạng tiếp tục nhận được sự trợ giúp không chính thức của nhiều nguồn khác nhau. Đức Dalai Lama được các nguyên thủ quốc gia thường xuyên tiếp kiến. Chính phủ lưu vong Tây Tạng duy trì một số văn phòng ở nhiều thành phố và quốc gia khác nhau như New Delhi, New York, Geneva, Tokyo, London, Paris, Moscow, Canberra, và Budapest. Những văn phòng này hoạt động như tòa đại sứ không chính thức của chánh phủ lưu vong Tây Tạng.
Đặc tính của một chính phủ lưu vong:
Phân tách những thí dụ kể trên người ta có thể định nghĩa chính phủ lưu vong là một tổ chức chính trị tự xem mình là một chánh phủ hợp pháp nhưng không thể sử dụng quyền hạn hợp pháp của mình và phải cư ngụ trên một quốc gia khác. Những chính phủ lưu vong thường chuẩn bị một ngày nào đó có thể quay trở về quê hương của mình để dành lại quyền hành chính thức. Các chính phủ lưu vong được thành lập trong những trường hợp như quốc gia bị xâm chiếm trong thời gian chiến tranh, nội chiến, đảo chánh, hay cách mạng.
Một số yếu tố sau đây giúp người ta nhận biết thế nào làmột chính phủ lưu vong:
1. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân tự cho mình có thẩm quyền tối cao đối với một quốc gia mà mình đã phải di tản.
2. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân có uy tín quốc tế và thành tích đáng kể được quốc gia bao dung công nhận rằng họ có thẩm quyền tối cao đó.
3. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân được tổ chức để thi hành một số hoạt động nhân danh một quốc gia.
Để chứng tỏ có thực quyền, một chính phủ lưu vong cần phải có khả năng để có thể thực hiện một số hoạt động như sau:
1. Được đại đa số dân ở trong và ngoài nước công nhận.
2. Được các quốc gia có chủ quyền công nhận ngoại giao.
3. Duy trì một lực lượng quân sự ở trong nước và/hay hải ngoại.
4. Tham dự vào những hiệp định song phương hay quốc tế.
5. Tu chính hiến chương của chính phủ lưu vong.
6. Phải có ngân sách hoạt động và có các văn phòng đại diện.
7. Phát hành giấy căn cước.
8. Cho phép thành lập đảng chính trị.
9. Thực hiện những cải tổ dân chủ.
10. Tổ chức bầu cử.
Sự hữu hiệu của một chính phủ lưu vong tùy thuộc vào uy tín và khả năng của những người lãnh đạo.Đó là những trường hợp như Đức Dalai Lama của Tây Tạng, Bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện, Tướng Wladyslaw Sikorski của Ba Lan, và Tướng de Gaulle của Pháp. Đồng thời sự trợ giúp từ khối dân của nước đó và các chính phủ ngoại quốc cũng rất là quan trọng. Những chánh phủ lưu vong trong những thí dụ trên đây cho thấy họ làm việc rất hiệu quả, tạo ra khá nhiều thử thách to lớn cho đối phương. Trái lại, có những chánh phủ lưu vong chỉ duy trì sự hiện diện tượng trưng hoặc tệ hơn không được ai nhắc nhở đến. Trong nhóm này người ta phải kể đến Belarusian People’s Republic, Qajar Dynasty, Pahlavi Dynasty, Royal Lao government in Exile, Sahrawi Arab Democratic Republic, v.v.
Các chính phủ lưu vong Việt Nam:
Riêng về Việt Nam, đầu tiên có Chánh Phủ Quốc Gia Lâm Thời (CPQGVNLT) do Phong Trào Việt Nam Tân Dân Chủ (PTVNTDC) vận động thành lập vào năm 1990. Vì bạo bệnh, ông Nguyễn Trân giữ chức vụ thủ tướng đầu tiên xin từ nhiệm. Ông Đào Minh Quân, Chủ Tịch PTVNTDC, cựu Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị VNCH, lên thay thế và chánh thức giữ tân thủ tướng kể từ ngày 16-2-1991. CPQGVNLT khai báo đã thành lập được năm văn phòng đại diện ở năm quốc gia có đông người tị nạn và được chính phủ Hoa Kỳ công nhận về mặt ngoại giao nhưng không có một bằng chứng pháp lý nào chứng tỏ điều này. CPQGVNLT không đạt được thành tích nào đáng kể và trên nguyên tắc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. CPQGVNLT tuyên bố rằng: CPQGVNLT là tổ chức “duy nhất đại diện cho Quốc Gia Việt Nam và những người đang bị Cộng Sản cướp nước và được chính phủ Hoa Kỳ nhìn nhận hợp pháp tại Hoa Kỳ.”
Chính phủ lưu vong thứ hai là Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do (CPCMVNTD) thành lập vào năm 1995, 20 năm sau khi miền nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Một người có bí danh là Nguyễn Hoàng Dân giữ chức vụ thủ tướng đầu tiên. Tiếp theo là ông Nguyễn Hữu Chánh, trước đó từng là một thành viên của CPQGVNLT. Danh hiệu CPCMVNTD sau này được đổi thành Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do và cuối cùng là Chính Phủ Việt Nam Tự Do. Tổ chức này tự giải tán vào 2008 vì “không còn phù hợp với tình hình thế giới.” Trong 13 năm hoạt động Chính Phủ Việt Nam Tự Do không được quốc gia nào công nhận, không thu hút được sự hỗ trợ đáng kể của dân Việt Nam ở trong nước và hải ngoại, cũng như không đạt được thành tích nào đáng kể. Trái lại tổ chức này còn bị tai tiếng vì liên hệ đến những vụ đặt bom bất thành tại một vài cơ sở của CSVN.
Chính phủ lưu vong thứ ba do các Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng VNCH, Ông Nguyễn Văn Chức, cựu thiếu tướng và cựu thượng nghị sĩ VNCH, cựu thiếu Tướng Lý Tòng Bá, và Ông Hồ Văn Sinh, chủ tịch VNCH Foundation, vận động thành lập vào năm 2008 với danh xưng là chánh phủ VNCH. Tổ chức này quy tụ được một số nhân vật thuộc nội các VNCH cuối cùng dưới quyền của cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn. Sau khi Ông Nguyễn Bá Cẩn đột ngột từ trần vào năm 2009, hai ông Nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá tiếp tục điều hành Chinh Phủ VNCH cho đến nay. Tổ chức này chủ trương phục hồi VNCH, đòi CSVN trả lại miền Nam Việt Nam bằng cách vận động quốc tế thi hành đúng đắn Hiệp Định Paris 1973.
Chánh phủ lưu vong thứ tư vừa mới thành lập vào tháng 10 vừa qua dưới danh xưng Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH do khoảng 300 người tham dự một hội nghị họp tại Westminter, California lấy tên là Hội Nghị Diên Hồng Việt Nam Hải Ngoại bầu ra. Ông Nguyễn Ngọc Bích, cựu Tổng Giám Đốc VNTTX, được nhiều phiếu nhất giữ chức chủ tịch. Ông Hồ Văn Sinh, nguyên là viên chức Dân Vận Chiêu Hồi, đệ nhất phó chủ tịch. Ông Đoàn Hữu Định, nguyên sĩ quan Nha Kỹ Thuật, đệ nhị phó chủ tịch.
UBLĐLTVNCH có chủ trương tương tự như tổ chức Chánh Phủ VNCH của cố thủ tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn: Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và đòi CSVN trả lại miền nam Việt Nam để tái lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Cho đến nay, người ta chưa biết rỏ tổ chức Chánh Phủ VNCH và UBLĐLTVNCH là hai thực thể khác biệt hay chỉ là một. Sau khi thành lập được hơn một tháng, Ông Đoàn Hữu Định tuyên bố rút tên ra khỏi UBLĐLTVNCH: “Mới đây qua một cuộc biểu quyết trong giới cựu quân nhân mà tôi là một thành phần đã cho biết là việc tham gia không thuận lợi vào lúc này và không mấy thích hợp trong hoàn cảnh và giai đoạn này. Do đó tôi phải theo ý muốn của đa số là rút tên ra khỏi Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH.” ( Lời ông Đoàn Hữu Định tuyên bố )
Bài học:
Tại Hoa Kỳ hiện có ít nhất là hai hoặc ba tổ chức dưới hình thức chính phủ Việt Nam lưu vong. Dù danh xưng là chủ tịch, tổng bí thư, tổng thống, hay thủ tướng, cũng không có gì khác biệt. Trong lịch sử hiếm thấy hiện tượng lạm phát chính phủ lưu vong như vậy. Thông thường chính phủ lưu vong được thành lập ngay sau khi có cuộc di tản ra hải ngoại. Trái lại cả bốn chính phủ lưu vong Việt Nam đều được thành lập vài ba thập niên sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Có lẽ thời gian đầu còn bận lo cơm áo. Ngày nay một số lãnh tụ lưu vong này đã ngoài 70 hay 80.
Trong Hội Nghị Diên Hồng Việt Nam Hải Ngoại vừa qua, một cựu sĩ quan VNCH nhận xét rằng: “Một chính phủ lưu vong phải có các yếu tố như là chính quyền, dân tộc, lãnh thổ và sự công nhận của quốc tế. Chúng ta không có những điều kiện này thì hãy an phận thủ thường mà làm những việc nho nhỏ, đừng nghĩ đến việc gì quá to lớn.” Ý kiến của ông rất chí lý nhưng rất tiếc không được chấp nhận. Do đó hải ngoại có thêm một chính phủ lưu vong.
Hai năm trước đây, Lm Phan Văn Lợi, một thành viên trong ban lãnh đạo của Khối 8406 ở quốc nội, vô cùng ngạc nhiên khi thấy tên của ngài và Lm Nguyễn Văn Lý trong danh sách thành phần của một chánh phủ lưu vong. Nhân dịp viết thư yêu cầu chính phủ lưu vong này lấy tên của mình ra, Lm Lợi đã đóng góp một số ý kiến được tóm tắt như sau mà kẻ viết bài này hoàn toàn đồng ý:
1. Thành lập một tổ chức nhỏ, hoạt động, từng bước xây dựng uy tín, để lớn dần dần.
2. Không thể có chuyện đùng một cái thành lập chính phủ lâm thời như ảo thuật được, lây qua các tổ chức đấu tranh nghiêm túc đầy gian nan vất vả khác; làm nản lòng bao người Việt tâm huyết khác.
3. Trong 35 năm qua, hình như cũng đã có một số “chính phủ lâm thời” mờ mờ ảo ảo, cũng đã làm người Việt chúng ta tốn công sức và tiền của khá nhiều rồi.
Nếu không đủ uy tín, không có đủ phương tiện, không có thực lực, không nên tổ chức chính phủ lưu phong. Phương sách tranh đấu hữu hiệu cho một nước Việt Nam dân chủ hiện nay vẫn là tập trung mọi nỗ lực để hỗ trợ phong trào dân chủ ở trong nước. Chúng ta vô cùng hãnh diện có nhiều chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ ở trong nước như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Cù Huy Hà Vũ, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Trần, Huỳnh Việt Lang, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), v.v. Họ sẽ là những người lãnh đạo đất nước trong tương lai.
Mỗi tổ chức ở hải ngoại dù lớn hay nhỏ nên thiết lập các Quỹ Dân Chủ để luôn luôn có sẵn nguồn tài chánh gửi về trợ giúp những tổ chức dân chủ ở trong nước có phương tiện hoạt động và những nhà dân chủ và gia đình khi họ bị CSVN bao vây kinh tế. Một việc làm hữu hiệu thứ hai là tiếp tục phổ biến tin tức trung thực vào trong nước để phá vỡ kế hoạch bưng bít thông tin của CSVN. Ngoài ra hải ngoại cần liên kết với các sinh viên Việt Nam du học. Lớp người trẻ này không ít thì nhiều sẽ là những thành phần tạo sự thay đổi ở trong nước. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, KS Nguyễn Tiến Trung, LS Lê Công Định, Cô Hoàng Lan, v.v. là những thí dụ cụ thể.
Tóm lược bài viết của:
Nguyễn Quốc Khải.