onsdag 12. oktober 2011

Mỹ Cúp Một Triệu Ðô La Tìm MIA Vì Không Có VNCH



Mỹ Cúp Một Triệu Ðô La Tìm MIA Vì Không Có VNCH.

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb vừa cho biết Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã thông báo với nhà cầm quyền CSVN là số tiền một triệu đô la dành cho chương trình tìm kiếm quân nhân Việt Nam mất tích, gọi tắt là MIA, sẽ không được chuyển cho cơ quan USAID trừ khi được bảo đảm là chương trình này được áp dụng cho cả hai phía Việt Cộng và VNCH.

Trong một thông cáo báo chí đưa ra hôm Thứ Năm, vị thượng nghị sĩ này cũng nhắc lại ý định của ông trong cố gắng “phục hồi” Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ở Bình Dương thành “nơi thiêng liêng, vì đây là sự tôn trọng tất cả mọi binh sĩ hy sinh trong cuộc chiến”.

Ông cũng khẳng định sẽ tiếp tục làm việc để Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ở Bình Dương thành một nơi thiêng liêng.

“Chương trình này thể hiện tinh thần hòa giải và đồng thời cho thấy sự trung thành và biết ơn của người Mỹ,” ông Will Jenkins, phát ngôn viên của Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, trích lời vị dân cử đại diện cho tiểu bang Virginia, cho nhật báo Người Việt biết. “Chúng ta không bao giờ quên những người đã chiến đấu cùng chúng ta, ngay cả khi đang làm việc với những người từng chiến đấu chống lại chúng ta.”

Trong một thông cáo báo chí đưa ra hôm Thứ Năm, vị thượng nghị sĩ này cũng nhắc lại ý định của ông trong cố gắng “phục hồi” Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ở Bình Dương thành “nơi thiêng liêng, vì đây là sự tôn trọng tất cả mọi binh sĩ hy sinh trong cuộc chiến”.

Về chương trình tìm kiếm quân nhân mất tích, ông cho biết: “Tôi vừa được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói họ đã thông báo với phía CSVN là sẽ không chuyển ngân khoản tìm kiếm MIA cho USAID cho tới khi được bảo đảm là chương trình này được áp dụng đồng đều cho mọi phía chiến đấu trong cuộc chiến Việt Nam.”

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, thuộc đảng Dân Chủ và là chủ tịch Tiểu Ban Châu Á Thái Bình Dương Sự Vụ thuộc Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện. Ông là một cựu Thủy Quân Lục Chiến từng có mặt tại Việt Nam, có vợ gốc Việt và thường xuyên đến thăm Việt Nam từ năm 1991đến nay.

Qua các công điện ngoại giao của Mỹ bị Wikileaks công bố mới đây, Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn cho biết Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từng bí mật tới viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trong chuyến đi Việt Nam năm 2008.

Trong ngân sách 2010, Quốc Hội Mỹ dành ra một triệu đô la cho cơ quan USAID “để tìm kiếm quân nhân cả hai miền Nam và Bắc mất tích trong cuộc chiến”.

Tuy nhiên, theo USAID, trong khi thảo luận phương cách thực hiện chương trình, phía nhà cầm quyền CSVN có ngụ ý cho thấy không bao gồm MIA của phía VNCH, văn phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb cho biết.

Tuần trước, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb yêu cầu USAID tạm ngưng chương trình cho tới khi được bảo đảm có bao gồm MIA của Bắc Việt, Việt Cộng và VNCH.

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt hồi tuần trước, ông Tim Rieser, nhân viên Tiểu Ban Chuẩn Chi Công Tác Chính Phủ và Ngoại Quốc, do Thượng Nghị Sĩ Patrick Leahy làm chủ tịch, nói: “Mục đích của chương trình này là để cho người Việt Nam thấy chúng tôi quan tâm không chỉ những trường hợp MIA của chúng tôi mà của cả những MIA của hai phía Việt Nam.”

Nhân viên của Thượng Nghị Sĩ Patrick Leahy cũng cho biết trong tương lai chương trình có thể có thêm tiền.

“Khoản ngân sách một triệu đô la là số tiền có được trong lúc này. Khoản tiền này do Thượng Nghị Sĩ Leahy đề nghị trong ngân sách năm ngoái,” ông Rieser nói tiếp. “Nếu chương trình này thành công, có thể có thêm ngân sách sau này.”

Ông Rieser cũng cho biết “từ khi có ngân khoản này, hai chính phủ Hoa Kỳ và CSVN đã bắt đầu thảo luận phương cách sử dụng như thế nào”.

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb cho biết thêm: “Nếu chương trình này được tiến hành để tìm kiếm MIA của mọi phía, nó sẽ là một cơ hội cho sự hợp tác có giá trị giữa Hoa Kỳ và CSVN. Nhưng chương trình này phải vinh danh tất cả những người đã hy sinh trong cuộc chiến và giúp đỡ thân nhân của những người thiệt mạng trên chiến trường.”

Ðỗ Dzũng.
Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com

tirsdag 11. oktober 2011

Thời Kỳ Công An Trị


Thời Kỳ Công An Trị.

Kể từ ngày thành lập cái gọi la nước "Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" - ngồi trên đầu - "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", guồng máy công an là phương tiện cai trị của đảng. Quan hệ hữu cơ gắn bó giữa sự tồn tại của đảng và bộ phận công an đã lên tới đỉnh điểm với khẩu hiệu "còn đảng còn mình". Tuy nhiên, đến cuối tháng 9 năm 2011, khi Nguyễn Tấn Dũng giao cho Bộ công an soạn thảo luật biểu tình thì có thể kết luận rằng: Thời kỳ công an trị mới CHÍNH THỨC bắt đầu tại Việt Nam.

Hiến pháp hiện hành do chính đảng CSVN làm ra và áp đặt lên 90 triệu người dân Việt Nam quy định: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp (điều 83), là bộ phận làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (điều 84).

Việc Nguyễn Tấn Dũng, người đứng đầu của lực lượng Hành pháp, giao cho Bộ công an soạn luật biểu tình chỉ ra sự đúng đắn trong câu nói được truyền miệng bất hủ: "luật là ta, ta là luật" đã chính thức trở thành hiện thực. Công an đã trở thành kẻ vừa viết luật vừa thi hành luật.

Không cần phải viết lại tình trạng công an đàn áp những người biểu tình yêu nước trong thời gian vừa qua. Cũng không cần phải phân tích khi công an soạn luật thì luật biểu tình sẽ là luật cản trở / giới hạn / cấm biểu tình và dùng nghị định pháp luật để ngồi lên đầu hiến pháp, đánh đổ hoặc trói buộc những lý luận về quyền biểu tình đã được dư luận quần chúng đưa ra trong thời gian qua.
Điều cần phải bàn, phải đặt câu hỏi là tại sao Nguyễn Tấn Dũng lại giao cho Công an vai trò soạn luật biểu tình?

Chắc hẳn Nguyễn Tấn Dũng, một người leo được tới chức thủ tướng không thể không biết đây là một hành động mở đường cho những chỉ trích. Tuy nhiên ông không đề nghị Quốc hội soạn luật biểu tình mà giao cho Bộ Công an.

Nguyễn Tấn Dũng không tin tưởng Quốc hội sẽ soạn thảo luật biểu tình theo đúng ý của mình. Bởi bài học Đường sắt cao tốc và giai đoạn đầu tứ bề thọ địch khi Vinashin vỡ nợ vẫn chưa quên. Nguyễn Tấn Dũng biết rõ sự sụp đổ của mọi thể chế và những gì xảy ra ở Tunisia, Ai Cập, Lybia mới đây đều là kết quả của những cuộc biểu tình quần chúng mà chế độ không còn kiểm soát được. Sự tồn vong của một thể chế nằm ở khả năng kiểm soát và ngăn chận biểu tình.

Nguyễn Tấn Dũng cũng có thể đề nghị cho một số thành viên quốc hội trung thành với mình để soạn luật biểu tình và tránh tai tiếng nhưng Dũng đã không làm chuyện đó. Giao cho công an vừa thể hiện tính ngạo mạn, thánh đố dư luận và tự tin rằng Dũng đã thu tóm được quyền lực tuyệt đối; nhưng quan trọng hơn, giao cho công an là một món quà, một thông điệp gửi đến bộ phận này: công an sẽ là bộ phận được ưu ái và từ đó sẽ là bộ phận trung thành nhất với Nguyễn Tấn Dũng.

Vậy là: Thời kỳ công an trị đã chính thức bắt đầu. Với tập đoàn tư bản đỏ đứng đằng sau Nguyễn Tấn Dũng vì tất cả dự án to lớn nằm trong tay và quyền hạn của người đứng đầu chế độ, với sự gắn bó chặt chẽ mang tính sống còn với Trung Quốc khi tới 80% dự án lớn do Trung Quốc chủ thầu, và với phe cánh đàn em là những người nắm vị trí quan trọng trong Bộ Công an như Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang đã được nâng cấp trong vai trò cai trị mới, Nguyễn Tấn Dũng đã trở thành một nhà độc tài nguy hiểm và tồi tệ nhất trong lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam.

Vũ Đông Hà.

Bệnh Hình Thức


Bệnh Hình Thức.

Một trong những nét tính cách không được đẹp của người VN mình là bệnh hình thức, thói sĩ diện. Cái bệnh hình thức, thói sĩ diện này không loại trừ một ai-từ ông nhà nước nói chung cho đến các ông quan cụ thể, từ giới có chữ cho đến dân đen ít chữ; và ngày càng nặng, càng phát triển thành nhiều trò lố lăng.

Vào nhà một gia đình người Việt, nhìn chung cái phòng khách bao giờ cũng được trang hoàng đẹp đẽ nhất, bao nhiêu cái gì quý nhất, có giá trị nhất được chưng ra cho khách xem, trong khi đó có nhiều gia đình lại không để ý đến cái phòng ngủ, bếp và nhà cầu. Phòng khách thật đẹp, nhưng bếp, nhà cầu thì chật chội, thiếu vệ sinh. Khác với dân Mỹ, dân Tây, cái nhà trước hết là để tạo ra môi trường sống thoải mái cho chính chủ nhân cái đã, nên nhà bếp, nhà cầu và phòng ngủ rất được họ coi trọng, sau đó mới đến phòng khách.

Với đa số người Việt, vẫn còn phổ biến cái tâm lý trong nhà ăn/ở/mặc sao cũng được, nhưng ra đường thì phải đẹp, phải ra vẻ đàng hoàng, phong lưu. Cái bệnh này nói thật, ở người Hà Nội và người Bắc nói chung, dường như nặng hơn người Sài Gòn và người miền Nam. Người Sài Gòn và người miền Nam làm ra bao nhiêu ăn xài bằng hết, sướng cái miệng, sướng cái thân trước đã, còn người Hà Nội và người miền Bắc có thể nhịn mồm nhịn miệng để sắmcon xe thật xịn, sắm cái nhà thật to, đồ đạc trong nhà thật hoành tráng. Nhiều người Sài Gòn trung lưu vẫn có thể đi những chiếc xe gắn máy đời cũ, chứ dân Hà Nội mà có tiền một chút thì đừng hòng.

Bệnh hình thức của người Việt thể hiện rất rõ ở thói quen chuộng hàng ngoại (dù lắm mặt hàng nhiều khi chất lượng chưa chắc đã hơn hàng VN), hàng hiệu (kể cả hàng nhái, miễn là có cái thương hiệu nổi tiếng!). Chả trách nhiều mặt hàng như quần áo may sẵn, giày dép túi xách, hàng phụ trang người bán cứ hô lên là hàng Thái, Đài Loan, Hàn Quốc gì đó cho cao giá!

Thời kinh tế thị trường, khi một bộ phận dân Việt trở nên sung túc hơn thì càng có điều kiện xài hàng ngoại, hàng đắt tiền. Ai cũng ngạc nhiên khi một quốc gia vẫn thuộc vào loại nghèo trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 vào khoảng 1200 USD/năm, GDP quốc gia năm 2010 đạt 104,6 tỷ USD, vẫn thua kém so với các nước láng giềng trong khu vực như Philippines 189 tỷ USD, Malaysia 218,9 tỷ USD, Thái Lan 312, 6 tỷ USD. (Báo Tuổi Trẻ ngày 31.12.2010). Thế nhưng các mặt hàng như điện thoại di động, iPod, iPhone đời mới nhất, mỹ phẩm, hàng trang sức…đắt tiền cho đến những thương hiệu xe hơi sang trọng nhất thế giới đều có mặt tại VN.

Việc nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ, đặc biệt là các loại ô tô cao cấp, các sản phẩm công nghệ cao đắt tiền… theo các nhà chuyên môn, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu lớn của VN.

Chuộng hình thức bên ngoài, người Việt cũng có thói quen chuộng/trọng bằng cấp. Nền giáo dục của VN thiếu vắng hẳn một triết lý giáo dục. Đi học, với người VN, là để có mảnh bằng, ra làm ông này bà kia, làm “thầy” chứ không chịu làm thợ. Học không nổi thì tìm cách chạy chọt mua bằng, xài bằng giả …Đó là lý do vì sao ngày càng nhiều vị trí thức dỏm, các ông quan to quan nhỏ bị dư luận phanh phui mua bằng, xài bằng dỏm, bằng giả.

Ở VN nếu làm giám đốc, làm quan chức trong bộ máy chính quyền thì thể nào cũng phải có vài mảnh bằng vắt vai cho nó sang, thông thường là cái bằng B Anh Văn, bằng trung cấp/cao cấp chính trị cộng thêm bằng Cử nhân luật hoặc Cử nhân Kinh tế, Quản trị kinh doanh…ở một trường đại học mở /đại học dân lập nào đó. Và không hiếm người có bằng Phó Tiến Sĩ, Tiến sĩ ngành này ngành kia dù cả đời chưa bao giờ có một công trình nghiên cứu hoặc những bài viết chuyên sâu về nghề nghiệp trên các tạp chí chuyên môn. Hoặc được phong Phó Giáo Sư, Giáo Sư của Viện kia, Bộ nọ nhưng chưa bao giờ có khả năng đứng lớp để dạy dỗ ai! Nhiều người chua chát bảo, Tiến sĩ ở VN bây giờ nhiều và rẻ mạt, muốn có cái Tiến sĩ đâu có gì là khó, chỉ cần có tiền!

Mới đây nhất, là chuyện ông Trịnh Thanh Tùng, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Phú Yên bị lộ ra chưa có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng lại có bằng tại chức Trường ĐH ngành kinh tế và quản trị kinh doanh Đà Nẵng, hay Thứ trưởng bộ y tế Cao Minh Quang khai man có bằng Tiến sĩ Dược khoa v.v.

Không chỉ mua bằng ở trong nước, nhiều vị còn bỏ tiền để mua bằng ở những trường đại học dỏm ở nước ngoài mà báo chí đã từng nêu lên rất nhiều trường hợp. Như vụ hai ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hoá-Thể thao-Du lịch tỉnh Phú Thọ và ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó bí thư tỉnh uỷ Yên Bái bỏ tiền mua bằng Tiến sĩ dỏm từ một cơ sở giáo dục dỏm có tên là trường “Đại học” Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University). Ông Nguyễn Ngọc Ân, theo thông tin từ báo chí, không biết tiếng Anh, còn ông Nguyễn Văn Ngọc chỉ mất sáu tháng kể từ lúc ghi danh đến lúc nhận bằng!

Khi còn ở VN, không ít lần tôi nhận được những cái Cartes de Visite/Business Cards của người này người kia và cứ thấy buồn cười trong bụng. Phổ biến là Cartes de Visite phải in tiếng Anh hoặc in hai mặt, một mặt tiếng Việt, mặt kia tiếng Anh dù người đó cả đời chỉ làm việc với người VN ở những cơ quan VN. Nếu có học vị, học hàm Tiến Sĩ, Giáo Sư là phải khoe ra ngay. Nếu là Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân cũng ghi ra. Có người được gọi là Nhà giáo Ưu tú bèn dịch luôn ra tiếng Anh “Excellent Professor” cho thằng Tây thấy nó sợ chết khiếp! Có người trên danh thiếp ghi một lô một lốc nào là nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nghệ sĩ…Là hội viên của Hội nhà văn thành phố HCM, Hội Nhà văn VN, Hội điện ảnh VN, thậm chí Hội viên hội Chim cá cảnh cũng ghi ra. Nghĩa là có bao nhiêu chức vụ, bao nhiêu bằng cấp, mấy cơ quan…tất tần tật phải khoe cho bằng hết!
Bệnh hình thức ở các quan chức còn biến tướng thành muôn ngàn trò lố khác. Như vụ ông quan Nguyễn Hùng Dũng ở Cần Thơ bị Thành Ủy tỉnh này kiểm điểm vì tổ chức đám cưới cho con vào ngày 5.9 nhưng in đầy đủ họ tên và chức vụ của mình trên phong bì của thiệp mời là Phó ban thường trực Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TP Cần Thơ! Tưởng chỉ một ông có sở thích khoe khoang không đúng chỗ này, mới đây lại thêm một cán bộ ở Bạc Liêu gửi thiệp mời đám cưới con gái, ngoài phong bì có ghi rõ tên, nơi công tác là Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy. Không biết các ông cán bộ nói trên khi ghi chức vụ Phó ban thường trực Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TP Cần Thơ hoặc cơ quan Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy thì nó có oai gì hơn không và có dụng ý gì?

Dân đen cho đến các quan to quan nhỏ mắc bệnh hình thức, nhà nước VN cũng mắc bệnh này. Nước thì nghèo mà làm cái gì cũng muốn thật hoành tráng. Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội một thời bị dư luận chỉ trích vì quá tốn kém, lên đến 94 ngàn tỷ đồng, vào khoảng 4,5 triệu đô la Mỹ thời điểm đó và bằng khoảng 10% GDP cả nước. Tiêu tốn vào rất nhiều công trình lớn, nhỏ, vào chương trình lễ lạc, các hoạt động, sự kiện, triễn lãm… kéo dài suốt 10 ngày, với tâm lý cái gì cũng phải to, phải nhất. Nào đại lộ Thăng Long dài nhất VN, nào con đường gốm sứ kỷ lục Guiness, cầu Vĩnh Tuy rộng nhất VN, bảo tàng Hà Nội được xây dựng rất to, hiện đại.

Nhiều ý kiến cho rằng tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội là cần thiết, nhưng không nên quá tốn kém trong khi cả nước còn nghèo, và nên dùng số tiền đó để cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng thành phố thì có ích hơn. Nhưng điều đáng nói là nhiều công trình vừa xây xong sau đại lễ đã bị xuống cấp nghiêm trọng như đại lộ Thăng Long, con đường gốm sứ, công viên Hòa Bình, hoặc các rạp chiếu phim Công Nhân, Kim Đồng, Đại Nam được xây dựng rất tốn kém nhưng từ sau khi khánh thành đến giờ vẫn thường xuyên ế khách!

Đó chỉ là một trong muôn ngàn ví dụ về sự lãng phí xuất phát từ căn bệnh hình thức cộng với thói quen xài tiền thuế của dân như tiền chùa của nhà nước VN. Nhiều chuyện cần làm thì không làm, như đường sắt khổ hẹp lạc hậu, cũ kỹ, bao nhiêu năm nay cần mở rộng, nâng cấp thì lại không nâng cấp mà chỉ mơ làm đường sắt cao tốc vì như thế mới là có IQ cao!

Mới đây lại thêm chuyện tỉnh Quảng Nam muốn xây tượng đài Mẹ VN anh hùng với tổng chi phí 410 tỷ đồng, vì “Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam cho rằng theo nguyện vọng của mọi người muốn công trình tượng đài này được thực hiện mang tinh thần dân tộc, thời đại và có giá trị vĩnh cửu nên điều chỉnh quy mô to lớn và hoành tráng hơn!” Trước phản ứng không đồng tình của dư luận, ông “Nguyễn Văn Hàm, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Nam, phụ trách theo dõi mỹ thuật công trình tượng đài BMVNAH cho biết công trình đã và đang tiến hành thi công, dù khó khăn về vốn thì vẫn phải tiếp tục tiến hành, có thể vừa thi công vừa vận động kinh phí.” (Báo Người Lao Động ngày 21.9.2011)

Chuyện này dư luận đã nói nhiều trong những ngày qua, kể cả việc đưa ra hai hình ảnh so sánh, một bên là những em học sinh ở xã miền núi Trọng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) hàng ngày phải bơi qua sông đến trường, vì huyện còn nghèo không đủ tiền xây cầu cho các em, một bên là tượng đài lớn nhất VN tốn 410 tỷ đồng, số tiền đó có thể xây bao nhiêu cái cầu? Lại nhớ, trước đó, khi báo chí đưa tin về chuyện trẻ em xã Đăk Nông, huyện Ngọc Hồi (Kom Tum) du dây qua sông đến trường, người dân bức xúc đã tình nguyện đóng góp để xây cầu cho các em. Ngẫm lại, chuyện từ thiện ở nước mình bao giờ cũng dựa vào dân lá lành đùm lá rách là chính, vì nhà nước còn mãi lo những chuyện lớn lao quan trọng!

Trong đời sống xã hội VN lâu nay, bệnh hình thức khiến chúng ta coi trọng những cái bên ngoài như quần áo, xe cộ, nhà cửa…(mà không cần biết cái xe cái nhà đó có được từ đâu, từ thành quả lao động, trí tuệ hay bằng con đường tham nhũng, mánh mung, làm ăn phi pháp), coi trọng bằng cấp (mà không cần biết năng lực thật sự của người đó như thế nào). Nghĩa là chạy theo những giá trị ảo mà coi thường những giá trị thật: năng lực, tài đức, nhân cách của một con người.

Còn ở cấp độ quốc gia, một nhà nước chuộng hình thức chỉ gây nên chuyện lãng phí tiền thuế mồ hôi nước mắt của nhân dân, làm cho đất nước đã nghèo càng nghèo thêm.
Hình như Trung Quốc- vốn có rất nhiều điểm tương đồng với VN về mặt văn hóa cho đến mô hình thể chế chính trị, cũng mắc bệnh hình thức, thích phô trương, xây cái gì cũng muốn to nhất thế giới, tàu cao tốc thì nhanh nhất thế giới, tàu sân bay thì muốn hiện đại nhất v.v. Thế giới đã chỉ ra thực chất của nhiều cái nhất đó như thế nào. Nhưng dẫu sao, anh Tàu lắm tiền, có chơi ngông một chút cũng chả sao, còn VN nghèo mà lại xài sang vô lối thì chỉ tổ sụp sớm!

Song Chi.

Download Miễn Phí Sách Giáo Khoa


Download Miễn Phí Sách Giáo Khoa.

Nhờ quý vị giúp phổ biến tới các trường Việt Ngữ hoặc các phụ huynh ở địa phương mình đang sinh sống có nhu cầu dạy tiếng Việt cho các em. Bấm hay copy vào link dưới đây:
http://haylentieng.org/ArticleDetial-837-

Nhằm đối phó với chương trình "xuất khẩu" dạy tiếng Việt của CSVN vào cộng đồng người Việt ở hải ngoại, bộ sách Việt Ngữ được biên soạn phù hợp với khả năng và nhu cầu của các em sinh trưởng hoặc lớn lên ở hải ngoại, những em chỉ sử dụng tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai.

Ngoài ra, bộ sách còn nhằm mục đích tạo ra sự thích thú cho các em trong việc học tiếng Việt với mong mỏi giữ gìn văn hóa Việt để khỏi bị mai một. Tên của bộ sách là Tiếng Việt Thực Hành. Bộ sách gồm có 6 cuốn: từ lớp Mẫu Giáo đến lớp 5. Bên trong mỗi cuốn sách gồm có:
1- Cờ và Quốc Ca VN
2- Lời mở đầu
3- Hướng dẫn sử dụng
4- Nội dung sách
5- Bản đồ VN
Các trường có thể tự design bìa cho phù hợp với từng trường. Có thể cho tên trường hoặc cộng đoàn nơi các em học Tiếng Việt vào.

Bộ sách này do thầy Trần Văn Minh - thuộc Liên trường Việt Ngữ Công giáo, GP Orange County - bỏ nhiều công sức và tâm huyết vào, biên soạn rất công phu, tỉ mỉ. Hiện tại thầy Trần Văn Minh, đã tài trợ chi phí in ấn 50 bộ, từ Mẫu Giáo đến Lớp 3 (đã gửi đi các trường trong và ngoài Cali khoảng 20 bộ). Các quyển sách này sẽ được ưu tiên tặng cho các trường Việt Ngữ mỗi trường 1 bộ. Sau khi 50 bộ đã được phân phát thì các trường tự in cho các em.

Các trường Việt Ngữ xài bộ sách này được sử dụng bản quyền, có thể in tên trường của mình vào bìa sách (Phật giáo, Công giáo, các hội đoàn...). Hiện có 2 version, một cho các trường Công giáo, một cho các trường không phải Công giáo.

Kính mời quý vị vào đây download. Các trường không phải Công Giáo thì download các files từ Mẫu Giáo đến lớp 5 có đuôi-KCG, riêng các files khác như "Lời mở đầu", "Hướng dẫn sử dụng" đều như nhau. Các files còn lại dành cho các trường Công Giáo.
Bấm vào link dưới đây:
http://haylentieng.org/vietngu.htm

Nhờ quý vị giúp liên lạc với các trường nơi mình sinh sống, hoặc các trường Việt Ngữ khác trong và ngoài nước Mỹ để giúp phổ biến bộ sách đến các em kịp năm học mới.

Xin chân thành cám ơn.

Tác Giả: Ngọc Thu.

Dân Tộc Việt Nam Cách Mạng Hoa Sen


Dân Tộc Việt Nam Cách Mạng Hoa Sen.

Lịch sử nhân loại đã cho chúng ta thấy rằng những biến chuyển quan trọng như cách mạng, bạo loạn, giải phóng từng diễn ra dây chuyền từ một phát khởi địa phương. Các biến cố đó ví như cơn bão lửa mà một khi đã bùng lên, thì có khuynh hướng lây lan rất nhanh, rất mạnh qua các nước láng giềng hay xa hơn, những nơi mà công dân đang chịu đựng những hoàn cảnh chính trị xã hội tương tự.

Thế Chiến thứ 2 chấm dứt với sự suy yếu của các cường quốc Tây Phương đã mở đầu cho phong trào giải thực rộng khắp trên các đại lục. Sau những cuộc đấu tranh bất bạo động hay các cuộc nổi dậy võ trang, Hong Kong (1997), British India (1947), Brunei (1984), Burma, Israel (1948), British Malaya (1957), Ceylon (1948), Kingdom of Sarawak (1963), North Borneo (1963) and Singapore (1963) đã giành lại độc lập từ Đế Quốc Anh; French India (1954) và Đông Dương (Vietnam (1945), Cambodia (1953) Laos từ Thực Dân Pháp; Goa (1961), Macau (1999) và Timor (1975) từ Portugal; Hoa Kỳ trả lại độc lập cho Philippines: Hoà Lan trả độc lập cho Đông Ấn; Úc trả độc lập cho Papua New Guinea. Gần như toàn bộ các nước Châu Phi và Mỹ Latin cũng giành lại độc lập trong khoảng thời gian sau đó.

Hệ thống các nước theo Cộng Sản từng chiếm 1/3 dân số và lãnh thổ của thế giới rồi cũng tiêu vong. Cuộc cách mạng xoá sổ chế độ Cộng Sản bắt đầu từ Đông Đức (1990) với sự phá hủy bức tường Bá Linh vào tháng 11 năm 1989; làm giải tán khối Minh Ước Quân Sự Warsaw và Khối Thinh Vượng Kinh Tế Comecon và lây lan qua làm tan vỡ đại cường Liên Bang Sô Viết năm 1991 để tái phục hồi hàng loạt các nước Latvia, Lithuania, Estonia, Ukraine, Belarus, Georgia, Chechen; rồi như ngọn lửa lan bùng qua các nước Nam Tư (1992) tạo thêm các quốc gia mới như Cộng Hoà Yougoslavia (sau này lại chia làm hai là Serbia và Montenefro), Slovenia, Croatia, Bosnia, Macedonia, và Herzegovina; Tiệp Khắc (1993), Ba Lan (diễn ra trước đó, năm 1989), Bulgaria, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Poland, Romania, Slovakia, Slovenia, và Mongolia.

Chỉ mới đây thôi, sau sự tự thiêu của một công dân Tunisie 26 tuổi, anh Mohamed Bouazizi, ngày 17 tháng 12, 2010, nhân dân Tunisie đã vùng dậy lật đổ chế độ độc tài của Zine El Abidine Ben Ali ngày 14 tháng 1, 201,sau 23 năm cầm quyền. Cuộc chính biến mà người ta đặt tên là Cách Mạng Hoa Lài đã lan sang các nước thuộc khối Ả Rập Bắc Phi và Trung Đông mà hậu quả tức khắc là sự lật đổ bạo quyền của Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak. Sau đó là các cuộc bạo loạn tổng thể tại Algeria, Yemen, Jordan, Bahrain, Iraq, Mauritania, và Libya. Tin mới nhất cho thấy cách mạng ở Libya đã đi vào giai đoạn kết thúc khi mà nhân dân Lybia đã làm chủ hầu hết đất đai kể cả thủ đô Tripoli.
Tất cả cội nguồn cũng từ tình hình kinh tế tồi tệ, nạn thất nghiệp, lạm phát trầm trọng và tệ nạn tham những của nhà cầm quyền. Về mặt chính trị là do sự tước đoạt các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận.

Ngay sau khi cách mạng Tunisia thành công, trên các diễn đàn, truyền thông hải ngoại đã có rất nhiều bài viết rất lạc quan, tin tưởng cuộc cách mạng Hoa Lài sẽ chuyền đến Việt Nam một luồng gió mới để phát sinh ra “Cách Mạng Hoa Sen”, là kỳ vọng của hơn ba triệu người Việt hải ngoại và hàng chục triệu đồng bào trong nước. Nhưng thời gian trôi qua, đã gần một năm, trong khi ngọn lửa đấu tranh bộc phát dử đội tại nhiều nước Hồi Giáo Bắc Phi và Trung Đông; thì “Cách mạng Hoa Sen” vẫn chỉ là niềm mơ ước trên các lời phát biểu và các trang báo.
Dựa trên nhiều yếu tố, thì sự tiên đoán đầy lạc quan về một cuộc tổng nổi dậy lật đổ bảo quyền Cộng Sản không phải là vô căn cứ.

Vì nếu so sánh trên các lãnh vực, thì Việt Nam tồi tệ hơn Tunisie và Ai Cập rất nhiều. Với một dân số 87 triệu (so với Tunisia 10.5), mà chỉ số GPD là 103 tỷ đô la (so với Tunisia 41 tỷ); nhưng GDP theo đầu người chỉ có 3100 Đô la (so với Tunisia là 9200 Đô la). Về chính trị, tuy Tunisia do lãnh tụ độc tài cầm quyền, nhưng xem ra vẫn còn tương đối ít hà khắc như ở Việt Nam. Ngay cả khi so với các nước đang có bạo loạn, thì Việt Nam vẫn là quốc gia mà chế độ Cộng Sản là dã man nhất, chà đạp nhân quyền nặng nề nhất. (Theo các nhà nghiên cứu chính trị, thì trong các chế độ chính trị, chế độ Cộng Sản là tàn bạo nhất; trong các nuớc Cộng Sản, thì Cộng Sản Á Châu là kinh khủng nhất).

Lịch sử cận đại đã minh chứng rằng Việt Nam đã đánh mất nhiều cơ hội bằng vàng để xây dựng đất nước dân chủ tự do và phú cường.

Nếu như ngay sau Thế Chiến 2 chấm dứt, khi Quốc Gia Việt Nam được thành lập do Pháp trao trả độc lập năm 1949; Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản đừng vì tham vọng làm tay sai để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản của Đệ Tam Quốc Tế mà gây cuộc chiến không cần thiết; thì đã không đưa đến sự tàn phá đất nước nghiêm trọng và gây cảnh chết chóc cho hàng triệu sinh linh qua hai cuộc chiến Pháp-Việt Minh và cuốc chiến tranh xâm lăng miền Nam. Việt Nam ngày nay đã có thể phát triển để vươn lên ngang tầm Nhật Bản, Đại Hàn chứ không bị tụt xuống hàng áp chót trong các quốc gia nghèo nàn lạc hậu của thế giới.

Cũng như vào những năm hân hoan trước sự tan rã của Liên Sô và khối Cộng Sản Đông Âu, Việt Nam bị hụt hẫng mất chỗ dựa trong lúc bị đàn anh Trung Cọng coi là kẻ thù, bị Hoa Kỳ và Tây Phương cấm vận, nền kinh tế suy sụp đến tận cùng, đói khổ tràn lan từ Bắc vào Nam. Chúng ta cũng từng nghĩ rằng đó là thời cơ để nhân dân Việt Nam nổi dậy đào mồ chôn chế độ Cộng Sản để giành lại quyền sống.

Cuộc khởi nghĩa Quỳnh Lưu (Nghệ An) năm 1956 là sự nổi dậy quy mô duy nhất trong suốt hơn nửa thế kỷ của miền Bắc duới chế độ Cộng Sản. Rồi từ đó cho đến hơn ba chục năm tiếp sau khi Hà Nội chiếm đoạt miền Nam, thực thi những chính sách bóc lột khủng bố tàn bạo, người dân cả hai miền chịu nín câm, cúi đầu chấp nhận mà chỉ phản ứng qua việc liều mạng chín chết một sống mà bỏ nước ra đi tạo thành một cảnh Exodus vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trận động đất và đại hồng thủy kinh hồn vừa xảy ra vào giữa tháng 3 vừa qua tại Nhật Bổn cũng dẫn đến nhiều sự đánh giá của những nhà nghiên cứu và bình luận về tính cách của dân tộc Nhật Bản. Từ đó, suy tư về những đặc điểm nhân văn của dân tộc Việt Nam mà thấy nhiều đắng cay chua chát. Cũng là hai dân tộc Á Châu, từng có những trang lịch sử anh hùng, không mấy cách biệt nhau về nền văn hoá cổ truyền. Nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng dân Nhật đã quá cao xa so với dân Việt Nam chúng ta.
Hình như suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm, người Việt chỉ thực sự đoàn kết và dấn thân hy sinh trong các trường hợp bị ngoại xâm. Kháng chiến chống Nguyên Mông, chống Minh Triều, Thanh Triều đã quy tụ nhân tài hào kiệt, khí thế ngất trời, trên dưới vua quan và thần dân một lòng đánh giặc để bảo tồn quê hương.

Nhưng khi bị đàn áp bởi các nhà cầm quyền tàn bạo, thì ít thấy những cuộc khởi nghĩa đồng loạt, vũ bảo để dẫn đến thành công. Ngoại trừ cuộc khởi nghĩa của Quang Trung Nguyễn Huệ, thì hầu hết các sự thay đổi chính quyền chỉ xảy ra từ trong cung đình: Tướng công Lý Công Uẩn diệt bạo chuá Lê Long Đỉnh, Thái Sư Trần Thủ Độ diệt nhà Lý, nhà Hậu Lê suy vong cả hàng trăm năm mới phát sinh anh hùng Nguyễn Huệ, nhà Nguyễn bạo ngược cũng chẳng đưa đến cuộc đảo chính nào trừ các nhóm nhỏ Giặc Châu Chấu, Cao Bá Quát mà thường bị dẹp tan ngay.

Có phải thuyết Thiên Mệnh của Khổng Giáo đã ru ngủ dân ta cúi đầu chấp nhận sự đàn áp mà họ cho là do trời đinh đoạt.
Cái chế độ Cộng Sản tàn bạo, dã man đến thế mà phải đến nửa thế kỷ sau, mới có vài cuộc đấu tranh manh múm, cục bộ về địa lý lẫn mục tiêu.

Vấn đề tôn giáo là nhậy cảm nhất đối với các dân tộc không riêng ở Việt Nam.
Thông thường, một khi nhà cẩm quyền đụng đến các tôn giáo, là họ đang tự đào mồ chôn chính mình.
Chỉ vì một sự bất công đối xử mà Phật tử đã biểu tình bạo loạn đưa đến đảo chính ngày 1-11 năm 1963 và cái chết thê thảm của anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Xét cho sâu vấn đề, thì không ai phủ nhận có bàn tay của Cộng Sản nhúng vào các phong trào Phật Giáo qua các cán bộ nằm vùng của chúng; và cũng không ai không biết đến bàn tay lông lá của người bạn đồng minh Hoa Kỳ nhằm thay thế ông Diệm bằng chính quyền dễ bảo hơn.

Ấy thế mà ngày nay, sự đàn áp tôn giáo đã lên đến mức tinh vi và tàn nhẫn mà các tôn giáo lớn ở Việt Nam vẫn chưa tìm ra sự đồng thuận để làm nên cuộc cách mạng.
Sau hàng chục năm không thể tiêu diệt được tôn giáo – mà Cộng Sản coi là thứ thuốc phiện đầu độc dân chúng - bọn Cộng Sản Việt Nam đã áp dụng chính sách tiêu diệt mới tinh vi và thâm độc hơn. Đó là xâm nhập cán bộ nắm lấy các giáo hội quốc doanh để đưa các giáo hội này đi xa con đường chính đạo của tôn giáo và dần dần mang tính cách những hội đoàn đã biến chất và vong thân. Đối với những tu sĩ hay giáo hội nào còn giữa nề nếp, thì Cộng Sản thẳng tay đàn áp. Chúng tước đoạt tài sản, đập phá nhà thờ chùa chiền, các biểu tượng linh thiêng, bắt bớ giam cầm và thủ tiêu các tu sĩ và giáo dân còn chống đối. Trong khi cho lập ra những nhà chùa, nhà thờ rất đồ sộ lộng lẫy để đánh lừa công chúng rằng tôn giáo tại Việt Nam ngày nay thật sự phát triển. Cùng lúc, lợi dụng sự sùng tín của đồng bào tị nạn, chúng liên tục cho bọn tu sĩ quốc doanh này ra hải ngoại quyên góp tiền bạc hay lập chùa chiền để moi tiền tín đồ và nắm lấy quyền chi phối mọi mặt.

Phản ứng của giáo dân, Thiên Chúa Giáo cũng như Tin Lành chỉ diễn ra ở mức độ nhỏ, có tính chất cục bộ địa phương và chỉ mới dựa trên vấn đề tài sản đất đai giáo hội. Con số cao nhất của những người biểu tình cũng có lúc lên đến số ngàn như tại thôn Vật Phụ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội ngày 19 tháng 7 vừa qua (con số có thể được phóng đại?). Những cuộc phản đối này chỉ cần một nhúm công an và bọn xã hội đen để dập tắt nhanh chóng và không lưu lại biến thái nào.
Những cuộc biểu tình đình công do sự bóc lật lao động, tiền lương cũng không dẫn đến cao trào rộng khắp của giới công nhân nghèo khó.

Người ta trông chờ, và bắt đầu đặt câu hỏi: Tại sao không xảy ra cuộc Cách Mạng Hoa Sen ?

Trình độ Văn Hoá, Ý thức Nhân chủ và Dân chủ, Y thức Cộng đồng, Ứng xử với tha nhân, lòng vị tha, đức tính tự trọng, hy sinh.

Hình như tất cả những khái niệm trên đều không có trong xã hội Việt Nam ngày nay.
Dân tộc Việt Nam sau hàng ngàn năm phong kiến, và gần thế kỷ Pháp thuộc đã chìm vào trong u tối của một xã hội rất lạc hậu, nghèo đói. Những học thuyết Khổng Mạnh có điều hay thì cũng có nhiều điều phản động. Nó ràng buộc con người trong một lối sống cổ hủ mà không tạo ra ý thức cách mạng. Cha ông chúng ta thường khuyên con cái: “xưa bày, nay làm”, để ngăn cản con cái tạo ra những thay đổi trong cuộc sống theo ảnh hưởng mới của nền văn minh dân chủ Tây Phương. Trong khi dó người Nhật và nhiều dân tộc khác đã sẵn sàng mạnh dạn canh tân. Ngay cả miền Nam trong suốt hai chế độ Cộng Hoà, các ý thức văn minh dân chủ, văn hoá mới cũng chỉ phát triển ở các đô thị mà thôi.

Miền Bắc suốt thời gian chiến tranh thì xem như lùi lại hàng trăm năm về các phương diện. Sau 1975, họ du nhập những thứ văn hoá thấp kém đó vào Nam, làm hư hỏng nhiều thế hệ. Con người cư xử với nhau như những con sói, đúng như câu thành ngữ Latin “Homo homini lupus”

Rất nhiều bản tin tức trên các diễn đàn, báo chí đã chứng minh điều này. Ở miền Thanh Nghệ, từng xảy ra một tai nạn lưu thông làm nhiều người chết và bị thương la liệt trên mặt đường. Dân chúng quanh đó nhào ra không phải để cấp cứu người bị nạn, mà tranh đạp nhau để hôi của. Chúng ta chắc từng xem đoạn video một kỹ sư trẻ tự thiêu trước một trụ sở hành chính hay công an ở Đà Nẵng. Những người chạy xe đi qua hoặc chậm lại, hoặc dừng hẳn để đưa đôi mắt thờ ơ tò mò nhìn người đồng bào đang vật vả trong ngọn lửa. Con người lãnh đạm, vô cảm trước nỗi đau của đồng bào đến mức đó thì xem như tình người trong xã hội đã không còn hiện hữu nữa. Như thế mong chi họ sẵn sàng hy sinh vật chất và sinh mạng của mình cho những mục tiêu cao cả!
Cái sợ, mà từ sau này đã nghe rất nhiều nhà “cách mạng lão thành” bộc biện vào cuối đời của họ (lời nhà văn Nguyễn Tuân “Sở dĩ tôi còn sống được đến ngày nay là vì tôi biết sợ!”), như đã ăn sâu vào tâm não, là nó trở thành một tính cách của người dân trong xã hội Việt Nam Cộng Sản.

Khi nhà văn Song Chi đưa ra bài viết với chủ đề đại khái là “Nếu còn sợ chết thì đành cam tâm chấp nhận làm nô lệ mà thôi.” Chúng tôi đã nhiều đêm ưu tư để thấy rằng đây là một sự thật đáng buồn và không thể chối bỏ được. Chắc chắn nỗi sợ là hậu quả của những chính sách cực kỳ man dã mà những người Cộng Sản đã học được từ bản chất bần nông cộng với lý thuyết và kỹ thuật từ Nga sô, quốc xã. Nó làm tê liệt tất cả mọi tế bào phản kháng trong con người. Nó làm con người chấp nhận thân phận một con vật chỉ để sống còn với miếng ăn tồi tàn do chủ bố thí. Nó xoá bỏ nhân cách và lòng tự trọng. Nó triệt tiêu quan hệ tốt đẹp giữa con người với tha nhân, ngay cả với thành viên trong gia đình.
Người trong nước đang từ từ vượt qua cơn sợ này. Bắt đầu từ miền Nam, nhưng lại thổi bùng lên ở miền Bắc, những thanh niên, các nhà đấu tranh đã bất chấp gian nguy, tù đày để đến nay đã có hơn 12 cuộc biểu tình chống Tàu Cộng bảo vệ Tổ Quốc. Trong cái nội dung chống Trung Cộng, nó đã mang màu sắc phản kháng lại chế độ. Nhưng vẫn đáng buốn khi các cuộc biểu tình này chỉ xảy ra ở Hà Nội, đôi lúc Sài Gòn, mà chưa thể lan rộng ra các thành phố khác.
Trong lúc cao trào trong nước đang có chiều hướng phấn khích, trong lúc tại hải ngoại đang có những hoạt động hỗ trợ cho trong nước, thì mới đây có một nhóm nhỏ gồm 36 người tự xưng là thí thức hải ngoại đệ trình lên nhà cầm quyền Cộng Sản lá thư ngỏ, xin họ hồi tâm, cảnh tỉnh.
Không nói đến cái ngây thơ chính trị của họ, mà chỉ liếc qua cái danh sách 36 người, chúng ta thấy rõ ngay một đa số những kẻ xu thời, từng có quan hệ làm ăn, giúp đỡ, nịnh bợ bọn Việt Cộng mà cách đây 36 năm họ đã không thừa nhận, và đã liều mạng vượt biển ra đi né tránh cái chế độ đó. Cộng sản đã phần nào thành công khi đem tiền tài danh vọng quyến dụ được bọn Việt Gian này. Chúng nó như là những cái gậy đang thọc sâu vào bánh xe tranh đấu của người Quốc Gia chân chính. Chính cái Nghị Quyết 36 và sự ra đời các toà Tổng lãnh Sự Việt Cộng tại các thành phố lớn có đông người Việt tị nạn đã là đầu dây mối nhợ của những thao túng trong sinh hoạt cộng đồng, gây sự nghi kỵ, phân hoá giữa người Việt chống Cộng. Ngày nay, chúng ta nhìn thấy bọn Việt Gian không còn e dè mà càng lúc càng công khai thách thức. Chúng đổ xố nhau đi đi về về Việt Nam làm ăn, họp hành, ra mắt sách, không cần ngụy trang như mấy năm trước đây. Đó là vì các tổ chức Cộng Đồng, các đoàn thể tị nạn cũng đang ở thế thủ, tiêu cực vì những vấn đề nội bộ.

Chúng tôi không dám có tham vọng đề ra những biện pháp – vì đã có quá nhiều bài tham luận của những vị thức giả có hằng tâm với vấn đề đã từng được phổ biến – mà chỉ nêu ra vài nhận xét thô thiển để chúng ta cùng nhìn lại, ý thức được rằng hiểm họa suy vong của Tổ Quốc không phải chỉ là hậu quả của sự mất nước vào tay Trung Cộng, mà còn là hậu quả của chế độ Mafia Cộng Sản hiện nay.
Nói như thế, để xin phép khẳng định rằng chính chế độ Cộng Sản Việt Nam là nguyên nhân chính của mất nước. Chính họ đã cam tâm dâng biển dâng đất, thần phục Trung Cộng từ hàng chục năm qua. Viết thư thuyết phục Cộng Sản thức tỉnh ý thức dân tộc mà cải thiện chính trị là ngây thơ, nếu không muốn dùng chữ ngu xuẩn. Chúng ta xem việc diệt trừ chế độ Cộng Sản vẫn luôn là mục tiêu tối thượng. Chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận một sự hoà hợp hoà giải nào; không hợp tác với Việt Cộng để chống ngoại xâm. Vì nếu chấp nhận giúp Việt Cộng để có cơ may nào thắng được ngoại xâm, thì có nghĩa là vẫn cứ duy trì cái chế độ Cộng Sản và làm cho thế lực của chúng càng tăng thêm. Và với tâm lý quần chúng yếu hèn như đã viết bên trên, chúng ta sẽ không có cơ may nào để lật đổ bọn cầm quyền độc tài Cộng Sản. Nhưng trái lại, nếu mất nước về tay Tàu Cộng, thì có nghĩa là kéo theo sự triệt tiêu bọn Cộng Sản; và sau đó, nỗi nhục mất nước sẽ nung nấu tinh thần quật cường của người dân tộc để có khởi nghĩa giành lại quê hương.

Đỗ Văn Phúc.

Bill Gates Từ Giã Cuộc Chơi

Bill Gates Từ Giã Cuộc Chơi.

Sau 33 năm ở trong cương vị người sáng lập và lãnh đạo công ty điện toán hàng đầu thế giới, tỷ phú William Henry Gates III đã nói lời từ giã với gần 100,000 nhân viên Microsoft trên toàn cầu – dĩ nhiên là qua mạng Internet – hôm thứ Sáu tuần qua. Lý do ông đưa ra rất đơn giản: ông cần thời gian để tập trung làm việc cho tổ chức nhân đạo Bill & Melinda Gates Foundation mà ông và vợ sángs lập.

Với tài sản cá nhân được ước lượng đến 58 tỷ Mỹ kim, Bill Gates trong nhiều năm liên tục giữ ngôi “Người giàu nhất hành tinh” và được đánh giá như một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Nhưng Bill và Melinda Gates đã quyết định từ giã cuộc chơi một cách thảnh thơi để dành công sức và gần trọn số tiền khổng lồ đó cho một mục tiêu mới: tận diệt những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được ở những nước nghèo.
Tuy nhiều người đã dự đoán trước, nhưng tin Bill Gates công bố quyết định “tắt máy” (log-off) khỏi Công ty Microsoft cũng gây chấn động mạnh trong giới điện toán toàn cầu. Trong hơn ba thập niên qua, tên tuổi của ông đã gắn liền với sự phát minh và phát triển của kỹ thuật truyền thông mà ngày nay ai nấy cũng không thể thiếu này. Các phòng hội thoại (chatrooms), nhắn tin (message boards), sổ tay cá nhân (blogs), trang mạng (websites)... tràn ngập những mẫu chuyện về cuộc đời và hoạt động của Bill Gates. Họ cũng tranh luận về vai trò của ông trong lịch sử nhân loại với một câu hỏi vừa mang tính giả thiết nhưng cũng rất thực tế: nếu không có Bill Gates cách đây hơn 3thập niên, bộ mặt thế giới bây giờ ra sao?

Dù với lý do gì, sự “giã từ cuộc chơi” của Bill Gates là một lỗ trống khó lấp đầy trong ngành công nghệ đã đưa nhân loại đến trình độ tiến bộ kỹ thuật như ngày nay. Nhưng ngược lại, những thành phần thiệt thòi trên thế giới, cụ thể là những nước kém phát triển ở Phi châu và Á châu, lại được giúp đỡ một cách cụ thể để chống lại bệnh tật và nghèo đói.

Bill Gates ra đi giữa lúc cuộc cạnh tranh trong ngành công nghệ vi tính bước vào một giai đoạn quyết liệt với sự ra đời của nhiều đối thủ trẻ và năng động khác, như Google và Yahoo. Microsoft chủ yếu là sáng tạo và bán nhu liệu (software) trong khi thế hệ đối thủ trẻ lại tập trung nhiều hơn về quảng cáo thương vụ và tìm kiếm trên Internet.

Cùng với người bạn đồng sáng lập Microsoft là Paul Allen, Bill Gates từng mơ ước rằng một ngày nào đó trên mỗi bàn giấy ở mọi nơi trên thế giới đều có một máy vi tính cá nhân (PC). Khởi đầu trong một garage chật hẹp chỉ vỏn vẹn hai học sinh trung học làm việc gần như không thấy ánh sáng mặt trời và chỉ sống bằng Coke và pizza, giấc mơ đó đã được thực hiện hơn nửa đường và Microsoft bây giờ có đội ngũ 91,192 chuyên viên kỹ thuật (con số rất chính xác, máy computer ghi chép mà!) trên khắp thế giới. Trong lực lượng nhân sự đó, từ ngày thứ Hai này, sẽ giảm bớt một người lãnh lương dù rằng ông vẫn là sở hữu chủ phần lớn cổ phần trong công ty.

Bill Gates ra đời ngày 28.10.1955 tại Seattle, tiểu bang Washington ở Hoa Kỳ, trong một gia đình giàu có. Cha của ông, William H. Gates Sr, là một luật sư danh tiếng và mẹ, Mary Maxwell Gates, là một giám đốc của công ty hàng đầu United Way. Bill có một chị, Kristi, và một em gái, Libby. Cả hai đều rất thành công trong sự nghiệp riêng của họ.

Từ thời trung học, gia đình đã có ý định cho Bill nối nghiệp cha theo ngành luật nhưng cậu thiếu niên này chỉ khoái chơi với chiếc máy điện toán ASR-33 thời đó hơn là đọc những án lệ rắc rối. Sự đam mê của Bill mạnh mẽ đến mức các thầy cô giáo bị cuốn hút vào các trò chơi của cậu và họ cho phép Bill được miễn dự lớp trong các giờ học để có thêm thời gian viết chương trình cho máy điện toán.

Cùng với vài người bạn cũng mê điện toán, trong đó có Paul Allen, Bill cắm đầu nghiên cứu và hoàn thiện nhiều chương trình căn bản mà về sau phạm vi ứng dụng của chúng trở nên phổ biến toàn cầu như FORTRAN, LISP và COBOL. Đến năm 17 tuổi, Bill và Paul “hợp tác làm ăn” với sự thành lập công ty Traf-O-Data chế tạo bộ phận kiểm tra lưu lượng thông tin trên máy điện toán. Trong năm đầu, hai chàng trẻ làm ăn khấm khá, kiếm được khoảng $20,000 (nên nhớ, giá trị đồng tiền vào thời điểm cách đây 35 năm) nhưng khi các khách hàng phát giác sản phẩm này là do “mấy thằng nhóc chế tạo”, thương vụ của công ty Traf-O-Data đã suy giảm hẳn.

Bill Gates tốt nghiệp trung học từ trường Lakeside School năm 1973 với số điểm Tú tài 1590/1600. Với kết quả này, Bill được nhận vào Đại học Havard và tại đây chàng kết bạn với Steve Ballmer, một người có năng khiếu đặc biệt về kinh doanh về sau được Bill bổ nhiệm vào chức vụ Tổng tài (CEO) của Công ty Microsoft cho đến nay. Cũng tại ngôi trường nổi tiếng này, Bill gặp “sư phụ” Christos Papadimitriou, một nhà khoa học điện thoại trứ danh thời ấy.

Tuy là sinh viên của Havard nhưng Bill Gates không có một học trình rõ rệt nào và đến năm 1975, anh rời trường – thực sự là nghỉ học luôn – để tìm đường tự lực cánh sinh. Sau khi công ty Intel cho ra đời sản phẩm Intel 8080 CPU, Bill Gates nhận thức ngay rằng đây là con chip đầu tiên với giá thành thấp hơn $200 nhưng có thể chạy chương trình BASIC trong máy điện toán cá nhân. Bill Gates tính nhẩm trong đầu rằng đây là cơ hội bằng vàng để anh ta tận dụng cơ hội và thời điểm khởi đầu của cuộc cách mạng kỹ thuật điện toán. Sau khi “tham khảo ý kiến” chiếu lệ với cha mẹ, Bill Gates cùng với Paul Allen thành lập công ty nhu liệu đầu tiên vào năm 1975, khi ấy cả hai mới vừa tròn 20 tuổi.

Từ ấy đến nay, công ty Microsoft đã trải qua 33 năm đầy thử thách và phát triển vượt bậc để trở thành một cơ sở kinh doanh quốc tế không có đối thủ. Bill Gates là người đầu tàu và chịu trách nhiệm chính về hoạch định chiến lược cho những sản phẩm của công ty. Với sự hợp tác đắc lực của Steve Ballmer về mặt thương vụ, Microsoft gần như độc quyền tung hoành thị trường, đến mức Chính phủ Hoa Kỳ đã phải can thiệp để tạo sự công bằng về cạnh tranh cho các công ty khác.
Trong phần lớn lịch sử của Microsoft, Bill Gates ngoài vai trò quản trị còn đảm nhiệm chức năng sáng tạo nhu liệu ứng dụng cho công ty, đặc biệt là các sản phẩm thảo chương.

Ngày 15.06.2006, Bill Gates công bố sẽ chuyển hướng hoạt động trong hai năm tới để cống hiến công sức của mình cho hoạt động từ thiện. Ông chia trách nhiệm của mình cho hai người kế nhiệm là Ray Ozzie (đặc trách về điều hành) và Craig Mundie (hoạch định chiến lược sản phẩm dài hạn). Một trong những sáng kiến sau cùng của ông trước khi ra đi khỏi công ty là sự thành lập nhóm phụ trách nhu liệu điều khiển tự động (robotics) cho Microsoft.

Về đời tư, Bill Gates kết hôn với Melinda French, một cựu thư ký riêng của ông từ Texas, ngày 01.01.1994. Họ có ba đứa con: Jennifer Katharine (1996), Rory John (1999) và Phoebe Adele (2002). Nhà riêng của Bill Gates được coi như một “tổng đài kỹ thuật của thế kỷ 21” trên một sườn đồi nhìn xuống Hồ Washington ở Medina, Tiểu bang Washington. Bill Gates không chỉ là một thiên tài kỹ thuật khô khan mà còn là một người yêu thích hội họa và văn chương. Ông là sở hữu chủ nhiều bức tranh nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci và có nguyên một thư viện rộng lớn với đầy sách của các tác giả trứ danh.

Từ năm 1993 đến 2007, Bill Gates luôn đứng đầu trong danh sách “Những người giàu nhất thế giới” do Tạp chí kinh doanh Forbes liệt kê. Năm 1999, tài sản của Bill Gates vượt quá con số 101 tỷ đô-la và giới truyền thông mô tả ông là “”bách tỷ phú” đầu tiên của thế giới. Nhưng từ năm 2002, giá trị cổ phần của Microsoft tụt giảm do sự trượt giá chung trên thị trường chứng khoán khi chiếc bong bóng “dot-com” bùng vỡ. Tài sản riêng của gia đình Bill Gates cũng hạ xuống sau khi ông và vợ quyết định hiến tặng hàng chục tỷ đô-la cho các tổ chức nhân đạo.

Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 5 năm 2006, Bill Gates nói ông ước ao rằng mình không phải là “người giàu nhất thế giới” vì không thích bị dư luận chú ý quá nhiều. Ngoài Microsoft, ông còn có cổ phần trong nhiều công ty khác (như Corbis và Berkshire Hathaway của tỷ phú bạn thân Warren Buffett). Những sự “đầu tư lẻ tẻ” này mang lại cho ông “đủ tiền đi chợ” vài triệu đô-la mỗi năm.

Từ năm 1994, Bill Gates bắt đầu bán bớt cổ phần của mình trong công ty Microsoft để cùng vợ thành lập Bill & Melinda Gates Foundation với mục đích hoạt động từ thiện trên khắp thế giới. Quyết định này bắt nguồn từ tấm gương vị tha của một tỷ phú nổi tiếng Mỹ khác là David Rockefeller, người chú trọng đến những lãnh vực nhân đạo mà các chính phủ và tổ chức quốc tế khác ít để ý đến như bệnh AIDS, cấp học bổng cho những nhóm thiểu số bị thiệt thòi, thiên tai và các chứng bệnh có thể phòng ngừa được ở các nước nghèo. Theo Tạp chí Forbes, tính đến năm 2004 gia đình Bill Gates đã hiến tặng tổng cộng gần $30 tỷ đô-la. Bạn thân của ông là Warren Buffett, người giàu thứ nhì thế giới, cũng đã góp vào quỹ từ thiện Bill & Melinda Gaes Foundation hơn $10 tỷ đô-la. Cả hai đều cam kết sẽ chi tiêu hết tất cả tài sản của họ cho các công tác nhân đạo trong vòng 50 năm sau khi những người sáng lập qua đời.

Với sự thành công phi thường trên thương trường và những hoạt động nhân đạo to lớn, Bill Gates được nhiều tổ chức quốc tế và các cơ quan truyền thông uy tín bầu chọn “Nhân vật ảnh hưởng hàng đầu của thế kỷ 20” (liên tục trong ba năm 2004, 2005 và 2006), “Nhân vật trong năm” (2005), “Người hùng của Thời đại” (2006). Ông cũng được trao tặng cho các danh hiệu cao quý và bằng cấp danh dự từ nhiều trường đại học quốc gia ở Hòa lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Anh Quốc và Mexico.

Nguyễn Hòa.

Trung Quốc Có Thể Dùng Bạo Lực Ðánh CSVN

Trung Quốc Có Thể Dùng Bạo Lực Ðánh CSVN.

Khi mối nguy về một cuộc đụng độ quân sự Việt - Trung ngày một hiện hữu tỷ lệ thuận với sự hung hăng và dã tâm bành trướng Trung Hoa, đã đến lúc chúng ta ngồi đánh giá một cách khách quan, xem thực sự TQ có thể dùng bao nhiêu triệu lính tấn công Việt Nam, và xác suất thành công của hai phía ở mức nào.

Theo số liệu thống kê gần nhất, dân số TQ hiện có 1,33 tỷ người. Cơ cấu dân số đang già hóa với tốc độ ngày một cao. Số người trên 60 tuổi hiện chiếm xấp xỉ 17% dân số và ngày một tăng nhanh theo thời gian. Suất sinh do chính sách dân số ngặt nghèo suốt 3 thập niên, luôn dưới 1, và đang có xu hướng giảm. Số người dưới 17 tuổi của TQ cũng chỉ chiếm trên 16%. Dân số phân bố không đồng đều, khá thưa thớt ở lãnh thổ Tây Tạng (cũ) mà TQ xâm lược trái phép năm 58 và vùng Nội mông cướp đọat của người Mông Cổ. Ngược lại, tập trung đông cao độ tại các trung tâm kinh tế ven biển và phía Nam.

Đứng về mặt số học mà nói, nếu tổng động viên, TQ có thể huy động không dưới 20 triệu lính. Hiện tại quân đội TQ cũng đang có số lượng đứng đầu thế giới với hơn 2 triệu lính thường trực.

Đối mặt với họ, Việt Nam có một đội quân thường trực hơn 400 nghìn người, cộng với một lực lượng dự bị có thể tái tổ chức trong thời gian ngắn khoảng 3 triệu người.

Một cuộc chiến tổng lực nổ ra giữa hai bên, Việt Nam có trụ được trước biển người của Trung Quốc?

Nhìn vào lịch sử mà nói, trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên, lần nào ưu thế số lượng cũng nghiêng lệch tuyệt đối về TQ. Theo sử liệu ghi nhận, thời Trần, Trung Quốc huy động 60 vạn quân xâm lược Việt Nam, đối địch lại, Hưng Đạo Vương có trong tay 20 vạn quân. Thời Minh, TQ mang sang 30 vạn quân, gồm cả các đạo quân tiếp viện đến sau, Lê Lợi vào lúc mạnh nhất có trong tay không quá 5 vạn lính. Thời nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị xua 20 vạn quân tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Huê mang 10 vạn tân binh mới tuyển ở Phú Xuân ra cự địch... Nếu nhìn xa hơn nữa vào các cuộc chiến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, tương ứng với nhà Hán, Đường, Tống, Minh của TQ, tương quan quân sự trong các cuộc chiến cũng hoàn toàn giống thế. Tuy nhiên, phần thắng cuối cùng luôn thuộc về Việt Nam.

Gần như tuyệt đại bộ phận chiến cuộc, Việt Nam luôn dựa vào cuộc chiến nhân dân, dàn trải trường kỳ, phối hợp cường công chính diện khi thời cơ đến để giành phần thắng. Ngoại trừ duy nhất vị tướng tài ba lỗi lạc Quang Trung, khi tiến công thần tốc vỗ mặt đánh tan đạo quân xâm lược của Tôn Sĩ Nghị trong thời gian ngắn. Nhiều chuyên gia quân sự sau này nghiên cứu đều thấy sự giống nhau đáng ngạc nhiên về triết lý điều binh giữa Nguyễn Huệ và Napoleon, với lối tiến công quyết liệt, biết sử dụng hỏa lực một cách cực kỳ hợp lý và tài điều phối quân chuẩn xác trong các diễn biến chiến tranh.

Trở lại câu chuyện thực tại, sau 30 năm hòa bình, dân số Việt Nam tăng rất nhanh, gần như phủ kín mọi m2 lãnh thổ. Người Việt Nam cũng đã hòan thành chỉ tiêu phá rừng trước thời hạn dự kiến 30 năm. Mật độ các thành phố mới tăng rất nhanh, đặc biệt là vùng Bắc Bộ, dự kiến sẽ là chiến trường chính một khi chiến tranh Việt - Trung nổ ra. Có thể nói, trong thời hiện đại ngày nay, với lãnh thổ đã được văn minh hóa nhiều của Việt Nam, không còn ưu thế để ẩn núp ngụy trang như thời chiến tranh với người Mỹ và người Pháp.

Năng lực vũ khí và khí tài quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay có chênh lệch, nhưng không có khoảng cách về thế hệ. TQ có vũ khí hạt nhân, nhưng không thể sử dụng. Đối chiếu kinh nghiệm chiến cuộc thời 1979, Việt Nam sử dụng 20 vạn lính , chủ yếu là dân quân, du kích, tự vệ và một số đơn vị chính quy, đã chặn đứng và đánh quỵ đạo quân xâm lược 60 vạn của Đặng Tiểu Bình trong cuộc chiến chớp nhoáng Việt -Trung lần một. Đây là một thành tích đáng nể, nhưng lúc đó Việt Nam đang sở hữu một thế hệ cả dân lẫn lính thiện chiến khi kinh qua 30 năm chiến tranh ác liệt, còn TQ lúc đó chỉ có một đám lính man rợ có thừa mà năng lực tác chiến thì gần bằng không. Hiện nay, sau một thời gian dài lính tráng hai bên đều không trải qua thực chiến, cái gọi là kinh nghiệm chỉ còn là quá khứ, và chúng ta phải căn cứ vào thực tế trước mắt để ước đoán.

Một cuộc chiến tổng lực xảy ra, Miền Bắc Việt Nam sẽ rơi vào hỗn loạn. Sẽ có một cuộc đại di tản về phía Nam, trong lúc các lực lượng chiến đấu lo phòng giữ lãnh thổ. Việt Nam có thể vận dụng cấp thời ít nhất 20 vạn quân, trong lúc Trung Quốc, với năng lực cơ động hiện có, cũng chỉ có thể đưa tối đa 60 vạn quân vào tham chiến bước một. Mấu chốt thành bại nằm ở chỗ Việt Nam có chặn TQ lại được ở vùng biên giới phía Bắc như năm 79 hay không, nếu thành công, TQ sẽ sa lầy và chắc chắn thất bại.

Đây là một điều khá khó ước đoán, trong những năm vừa qua, do giàu có hơn và quản trị tốt, lính Trung Quốc được huấn luyện rất chu đáo, nhất là những thành phần thuộc các đơn vị đặc biệt. Lính Việt Nam được gọi nhập ngũ đều đặn hàng năm, nhưng chắc chắn không huấn luyện tốt như lính Trung Quốc.

Tuy nhiên, xét về tố chất, chính sách một con trong suốt 30 năm qua cũng biến vài thế hệ lính Trung Quốc hiện nay thành loại lính diễu binh: Trông rất béo tốt, múa võ rất đẹp, huấn luyện đi rất đều, hò hét rất to, nhưng đều là loại con một công tử bột và không có khả năng chiến đấu, động chảy máu là ngất xỉu.

Ngược lại, lính Việt Nam phải đi bộ đội đa phần thuộc những gia đình nghèo, đông con, độ lì và chịu khó chịu khổ cũng không kém là mấy những thế hệ cha anh từng tham gia chiến tranh 30 năm trước. Đám lính này khi quăng vào thử lửa đích thực, càng đánh sẽ càng lỳ. Chưa kể tới tố chất người Việt hễ nghe nói đến đánh Tàu là đều sôi máu vằn mắt.

Trung Quốc có hỏa lực vượt trội xét về số tăng, pháo, oanh tạc cơ và tên lửa đất đối đất. Ngược lại, Việt Nam có ưu thế về địa lợi khi chiến đấu chỉ với mục đích phòng thủ và có kinh nghiệm chiến tranh nóng hổi hơn. Trên thực tế, chênh lệch hỏa lực hiện tại giữa Việt Nam và Trung Quốc còn chưa bằng một phần nhỏ chênh lệch hỏa lực giữa Việt Nam và Mỹ trước đây (Mỹ từng giộng xuống Việt Nam ngót 7 tr tấn bom, ném mãi, sau chán đành bỏ cuộc rút quân về nước).

Khi xảy ra một cuộc chiến tổng lực, Trung Quốc không thể huy động quá một lực lượng 15 triệu lính tiến đánh Việt Nam, trong đó giao chiến trực tiếp không quá 1 triệu do giới hạn chiều dài chiến trường. Trung Quốc rất dễ lâm vào nội loạn một khi số lính huy động cho chiến tranh quá lớn. Trong khi đó, Việt Nam có thể huy động không ít hơn 10 triệu lính tình nguyện khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, bởi nhắc đến đánh nhau với Tàu Khựa, mọi bất đồng về ý thức hệ, giai cấp, đẳng cấp giữa người Việt đều gần như được xóa bỏ toàn bộ.

Việt Nam có lợi thế lớn vì chắc chắn sẽ nhận được nguồn viện trợ vũ khí vô điều kiện từ Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Nga .. (Giống như TQ đang tuồn vũ khí vào Libi hiện nay cho Kadafi). Bọn này không yêu Việt Nam, nhưng rất thích thú nếu TQ sa lầy, và người Việt thì một khi đã phải đánh nhau với Tàu thì không còn lựa chọn nào khác, phải bằng mọi giá kiếm lấy mọi nguồn hỗ trợ.

Miền Bắc Việt Nam gồm Hà Nội nhiều khả năng sẽ bị tàn phá nặng nề, chiến tranh càng kéo dài, tổn tất càng lớn. Chiến lược của Việt Nam ở phía Bắc chỉ có thể thiên về phòng thủ, kéo TQ vào trận thế sa lầy. Ngược lại, Việt Nam có ưu thế rõ rệt để tấn công ở phía Nam. Đến đây bọn chã sẽ thắc mắc, Trung Quốc nào ở phía Nam mà đòi tấn công phía Nam?

Trung Quốc không ở phía Nam, nhưng miếng ăn miếng uống của nó đều từ phía Nam mà về. Eo Mallaca là một tử huyệt của TQ. Chẳng hạn để thay thế một chiếc tàu dầu tải trọng 100 nghìn tấn chạy qua eo Mallaca, Trung Quốc phải dùng khoảng 30000 xe téc chở dầu, mỗi xe chở được khoảng 3 tấn, chạy quãng đường gần 1000 km qua ngả Mianma, điều này đương nhiên là bất khả thi. Thậm chí kể cả TQ có xây xong hệ thống ống dẫn dầu qua ngả Mianma và phía Trung Á, cũng không thay thế được đường vận tải qua Mallaca, vì nguồn dầu chính của thế giới là Trung Đông, chỉ có thể về TQ qua Ấn Độ Dương và xuyên qua Mallaca.

Trong điều kiện chiến tranh tổng lực, Việt Nam cần dồn lực lượng không quân lui sâu về phía Nam, và đánh đắm mọi tàu vận tải của Trung Quốc lưu thông qua eo biển. Xác định đâu là tàu TQ chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật, còn kiếm một cái cớ để đánh tàu thương mại trong chiến tranh cũng chẳng khó khăn gì, khi chúng ta liệt dầu vào một loại nhiên liệu quốc phòng thiết yếu. Khi đó Việt Nam sẽ bị Trung Quốc gây thiệt hại nặng phía Bắc, nhưng ngược lại, người Việt có khả năng bóp nghẹt cổ Trung Quốc ở phía Nam. Trong vòng 6 tháng, cả hai phía sẽ phải xuống thang đàm phán, kèm theo sự nghi kỵ nặng nề, mà hậu quả lâu dài TQ cũng rất khó khắc phục vì hoạt động thương mại của nó sẽ không thể bình thường trong ít nhất 20 năm. Thời gian đó đủ dài để Ấn Độ trèo lên đầu TQ, và Mỹ đủ thời gian xác lập lại trật tự mới cho khu vực.

Sưu tầm.