søndag 7. august 2011

Coi Vậy Mà Không Phải Vậy !




Coi Vậy Mà Không Phải Vậy !

Ngày 27 tháng 7, đài RFI vừa loan tin: “Nhân ngày kỷ niệm thương binh liệt sĩ ở Việt Nam, một số nhân sĩ, trí thức ở Thành Hồ cùng với câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình đã tổ chức buổi lễ tưởng niệm tất cả những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới và hải đảo. Ðó là những người đã hy sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như trong hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam.”

Báo chí ở hải ngoại, trong tinh thần “phấn khởi” cũng đã cho rằng: “Lần đầu tiên, Sài Gòn có một lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH tử trận trong khi giữ đảo Hoàng Sa vào năm 1974, chống cự quân Trung Quốc lên chiếm đảo. Và cũng lần đầu tiên, bà quả phụ Ngụy Văn Thà, vị hạm trưởng chiếc Nhật Tảo đã tử tiết theo tàu chiến này, được mời tới dự lễ vinh danh người chồng quá cố của bà.”

Chúng tôi, những người đã bỏ nước ra đi, sau bao năm bị cộng sản hành hạ, chửi bới, và vùi dập hình ảnh người lính VNCH, cũng phấn khởi khi đọc các bản tin trên báo chí, tưởng như bây giờ cộng sản đã đổi hướng, biết đến lẽ phải, biết trân trọng những anh hùng liệt sĩ đã chết cho đất nước dù đó là người lính miền Nam hay miền Bắc. Trong thời gian trước tháng 4 năm 1975, trước sự xâm lăng của Trung Cộng và vì sự khiếp nhược của vai vế “bề tôi,” của Hà Nội, đã cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của đàn anh Trung Cộng còn hơn là của Việt Nam Cộng Hòa, dù Việt Nam Cộng Hòa cũng là đất nước Việt Nam. Bây giờ ngay tại Hà Nội, thật bất ngờ khi nghe tin CSVN cho phép ông Nguyễn Ðình Ðầu, một nhà sử học, 91 tuổi, đứng ra tổ chức một buổi lễ tưởng niệm “đồng bào, chiến sĩ” hy sinh để bảo vệ đất và biển mà trong đó “bao gồm cả các chiến sĩ VNCH đã bỏ mình chống lại Trung Cộng xâm lăng quần đảo Hoàng Sa vào ngày 18 tháng 1, 1974,” khiến tôi phải quan tâm theo dõi, tưởng tượng hình ảnh những người lính Hải Quân VNCH ngày nào trên bàn thờ hương khói, mà lòng xúc động khôn cùng.

Cũng chính vì nỗi xúc động này, tôi đã đi tìm trên những trang “lưới,” để hy vọng tận mắt thấy những hình ảnh của anh em tôi, thấy bà quả phụ Ngụy Văn Thà được vinh danh, dù là với một bó hoa nhỏ tri ân, nhưng tất cả những gì tôi thấy được ở đây, đọc được ở đây làm cho tôi mang cái cảm giác bị lừa, cũng như giới truyền thông thế giới bị lừa bởi cái tiểu xảo của cộng sản và cách loan tin vội vã gần như hoàn toàn sai sự thật của nhiều ký giả.

Khoảng 50 người có mặt tham dự “buổi lễ tưởng niệm” trong một cái phòng nhỏ ở số 43 đường Nguyễn Thông Saigon có sự hiện diện của giới “nhân sĩ, trí thức” như các ông Nguyễn Ðình Ðầu, GS Tương Lai, ông Lê Hiếu Ðằng, Ðỗ Trung Quân và ông Huỳnh Tấn Mẫm.

Chúng ta thấy gì trên sân khấu và trên bàn thờ ? Thay vì bài vị và hình ảnh các tử sĩ của cả hai bên như ý nghĩa tưởng niệm, thì chúng ta chỉ thấy một bàn thờ Hồ Chí Minh và ngọn cờ máu. Bên phải bàn thờ hình “Tội Ðồ Dân Tộc” có mấy hàng chữ lớn: “Kỷ Niệm 64 Năm Ngày Thương Binh Liệt Sĩ Việt Nam 27 tháng 7, 2011,” bên trái hình “Tội Ðồ Dân Tộc” có câu: “Tưởng Niệm Ðồng Bào Chiến Sĩ Hy Sinh Bảo Vệ Biên Cương Hải Ðảo.” Lá cờ lớn sau ảnh Hồ Chí Minh màu đỏ, bàn thờ phủ khăn màu đỏ, bục thuyết trình phủ khăn đỏ, cả hai cây đèn cầy không thắp (!)và hai chục hoa “glaieul” cũng màu đỏ luôn. Không thấy có câu nào là “vinh danh tử sĩ VNCH,” cũng không có câu nào là “Hoàng Sa ngày 8 tháng 4, 1974” hay “buổi lễ tưởng niệm chung cho các chiến sĩ hai miền Nam Bắc.” Diễn thuyết xong, (cho ăn kẹo cũng không có ông trí thức XHCN nào dám lên tiếng ca tụng “công khai” các chiến sĩ VNCH), cuối cùng thì bà con lên thắp nhang khấn vái trước bàn thờ tên Cáo Hồ, mà không phải là ai khác!

Bà quả phụ Ngụy Văn Thà mặc áo bà ba ngồi ở hàng ghế thứ hai, “bị” mời lên thắp nhang trên bàn thờ “Cáo Hồ” vì không có bàn thờ nào dành cho anh hùng Ngụy Văn Thà, chồng của bà. Ðể kết thúc buổi lễ, người ta bắt bà cầm một tấm bảng có mấy chữ viết tay nguệch ngoạc “Phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc vi phạm biển đất thuộc chủ quyền Việt Nam” để chụp ảnh đưa lên “net.”

Ðó là những gì thuộc buổi lễ mà người ta ca tụng là “công khai,” “đặc biệt,” “hiếm có.” Ðừng hy vọng gì ở cộng sản một sự thay đổi biết điều hay tử tế, và giới nhân sĩ, trí thức Việt Nam trong câu chuyện này, dám nói dám làm vì thật sự họ chưa hết sợ đâu! Tôi không thấy phấn khởi chút nào trước sự việc trên mà cảm thấy mình bị lừa bịp! Xin ơn trên ban cho anh em tôi chút sáng suốt cuối đời!

Nếu bạn đọc muốn thăm hỏi bà quả phụ Ngụy Văn Thà xin liên lạc:
Bà Huỳnh Thị Sinh
151/10 Ðường Nguyễn Kim
Phường 7- Quận 10 - Sàigòn
Số phone mới: 848-3857-2760.

Huy Phương.

Cán Bộ CSVN Ðội Lốt Sư Tăng



Cán Bộ CSVN Ðội Lốt Sư Tăng.

Các Chùa VN ở Hải Ngoại sau khi "thu tiền" của những tín đồ Hải Ngoại quốc gia Tỵ Nạn CS để xây cất những ngôi Chùa đồ sộ, bèn thỉnh các sư "quốc doanh" từ trong nước ra hải ngoại để "tiếp thu".
Đó là một hành vi "phản bội" và "lường gạt" các tín đồ. Quý đồng hương, chính quý vị đã chi tiền, quý vị còn chờ gì nữa mà không đứng lên hỏi tội bọn "lưu manh ăn cướp" trọc đầu nầy ?

TU VIỆN KIM SƠN BẢO LÃNH SƯ QUỐC DOANH ĐẾN MỸ ĐỂ LÀM GÌ ?

Đại Đức THÍCH QUẢNG BẢO, tăng sư quốc doanh do CSVN gửi vào Hoa Kỳ ẩn trú trong vùng Little Saigon, California từ mấy năm nay.

THÍCH QUẢNG BẢO, tên thật là NGUYỄN VĂN CANH, sinh năm 1976 tại miền Trung Việt Nam, tốt nghiệp “Học viện Phật Giáo VN tại Thành Hồ” (là một lò đào tạo tăng sư quốc doanh do CSVN thành lập từ 1983).

http://www.daophatngaynay.com/tacgia/thichquangbao.htm

Thích Quảng Bảo đã công khai viết bài trên trang web “Đạo Phật Ngày Nay” để giới thiệu và xin hỗ trợ cho “Học viện Phật Giáo Quốc Doanh tại Thành Hồ ”.
http://www.daophatngaynay.com/viet/pgvn/vande/010-hocvienPGVNtaiHCM.htm

Thích Quảng Bảo được tu viện KIM SƠN (miền Bắc Cali) bảo lãnh từ VN sang Hoa Kỳ mấy năm nay cùng với một số sư tăng quốc doanh khác. Mặc dầu do tu viện KIM SƠN bảo lãnh nhưng Thích Quảng Bảo không sống trong tu viện KIM SƠN, mà lâu nay sống bí ẩn trong nhà một phật tử tại Fountain Valley, gần Little Saigon, miền Nam Cali. Thích Quảng Bảo cũng ghi danh theo học tại CSU Long Beach từ nhiều năm nay.

Đối với trường hợp nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện tôn giáo (R-1 Religious Worker Visa), luật di trú Hoa Kỳ đòi hỏi cơ sở tôn giáo bảo lãnh phải cung cấp nơi cư trú và trả lương (phải có W2s) cho người được bảo lãnh, và người được bảo lãnh theo diện này sau khi đến Mỹ chỉ được phép làm việc cho cơ sở tôn giáo bảo lãnh mình.

Trường hợp Thích Quảng Bảo được tu viện KIM SƠN bảo lãnh nhưng không cư trú tại tu viện KIM SƠN ở miền Bắc Cali, không làm việc cho tu viện KIM SƠN, mà lại dọn về sống với phật tử ở miền Nam Cali và theo học ở CSU Long Beach, là một bằng chứng cụ thể cho thấy tu viện KIM SƠN và Thích Quảng Bảo đã vi phạm các điều kiện quy định bởi luật di trú Hoa Kỳ đối với trường hợp nhập cảnh theo diện tôn giáo. Ngoài ra, sự kiện này cũng cho thấy tu viện KIM SƠN bảo lãnh sư tăng từ VN rõ ràng không phải vì nhu cầu cần thêm tăng sĩ cho tu viện.

Sau khi tin tức này được loan tải trên internet vài tuần qua và sự kiện cũng đã được báo cáo với cơ quan di trú Hoa Kỳ để điều tra, Thích Quảng Bảo đã rời khỏi nhà của phật tử ở Fountain Valley, trở về tu viện KIM SƠN ở miền Bắc Cali.

CSVN đang ồ ạt gửi cán bộ đội lốt tăng sĩ Phật giáo vào Hoa Kỳ trong kế hoạch khống chế Phật Giáo tại đây. Thành phần này đang núp sau lưng và giật dây các sư hổ mang gây chia rẽ và lũng đoạn Phật Giáo ở hải ngoại. Xin cảnh giác để nhận diện những sư tăng quốc doanh này, hầu hết đều vào Hoa Kỳ theo diện tôn giáo dưới sự bảo lãnh của các chùa và tu viện Phật giáo.

Nếu thấy có sự khả nghi về hành tung của những cán bộ CS đội lốt sư tăng nói trên, xin báo cáo ngay với U.S. Immigration and Custom Enforcement: 1-866-347-2423

CSVN chớ có Coi Thường Luật Pháp.

Cao Bá Tuấn.

Ðường Lưỡi Lò Trung Cộng




Thêm Một Cuốn Sách Việt Cộng
Tuyên Truyền Ðường Lưỡi Bò Của Trung Cộng.

1. Theo thông tin phản ánh trên mạng, cuốn sách dạy tiếng Trung với tựa đề "Luyện kỹ năng đọc hiểu Tiếng Hoa" do Ngọc Huyên biên soạn, được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, ở trang 274 có in hình bản đồ Trung Quốc với đường lưỡi bò liếm gần hết cả biển Đông.
Được biết, một cuốn sách muốn ra đời phải qua nhiều khâu kiểm duyệt. Chả nhẽ từ tác giả, người cấp phép cho đến nhà xuất bản lại “sơ suất” đến thế ư ? Biển của ta, đảo của ta mà ta lại không được quyền lên tiếng khi ngoại bang lấn chiếm, trong khi đó báo chí sách vở của ta lại mặc nhiên công nhận cái "chủ quyền" ăn cướp ấy của họ.
2. Trên Youtube đang lưu hành clip người Trung Quốc dạy cho trẻ tiểu học về Hoàng Sa, Trường Sa (http://www.youtube.com/watch?v=lmpagVeus0A&feature=player_embedded).
Người ta đã nhồi sọ cho thế hệ trẻ về hai quần đảo không thuộc chủ quyền của họ, một sự tính toán lâu dài, thâm độc. Thế mà sách vở của ta, từ mẫu giáo cho đến lớp 12, kể cả sách đại lí, lịch sử, tịnh không có một bài học nào về hai quần đảo này của ông cha. Sao lại dạy “Đất quý, đất yêu” (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 84) của nước Ê-ti-ô-pi-a tận đẩu tận đâu bên châu Phi chứ không phải là Hoàng Sa hay Trường Sa mà ông cha đã đổ máu xương gìn giữ?

Cách đây chưa lâu, lấy cớ là vấn đề nhạy cảm, người ta “stop” những bản tin hoặc bài viết về chủ quyền của đất nước đối với Hoàng Sa trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Than ôi! Của ta đường đường chính chính mà ta không được lên tiếng bảo vệ, không truyền dạy cho con trẻ thì làm sao nuôi dưỡng, làm sao khơi dậy ở các thế hệ tương lai lòng yêu nước thương nòi?

3. Trả lời báo chí bên lề phiên họp khai mạc Quốc hội khóa XIII sáng 21-7, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Phó Thủ tướng đề xuất phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào chương trình dạy học phổ thông cho học sinh. Không biết ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo có nắm được thông tin này không? Nếu có thì Bộ và các nhà soạn sách hãy đưa bài học Hoàng Sa, Trường Sa vào cái dự án khổng lồ 70 ngàn tỉ kia. Trước mắt, trong năm học tới có thể thực hiện nội dung này bằng một bài học ngoại khóa bắt buộc cho học sinh các cấp. Giảm tải những kiến thức chưa thiết thực với cuộc sống hiện tại của các em chứ không thể giảm tải những bài học dạy cho các em biết thế nào là chủ quyền đất nước, là lòng yêu nước thực sự.

4. Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chỉ có thể được bảo toàn bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, chứ không một ai, một cá nhân nào có thể lo nổi. Đảng và Nhà nước có trách nhiệm nhưng không thể chỉ có Đảng và Nhà nước lo. Nói như vậy là xóa bỏ trách nhiệm công dân, tạo nên khoảng cách xa vời giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước; vô hình trung phá vỡ sức mạnh dân tộc, xói mòn lòng yêu nước.

Hãy để cho nguồn sức mạnh ấy được phát huy, được lan tỏa từ mỗi con người, mỗi góc phố, mỗi xóm làng trên khắp đất nước Việt Nam thân yêu. Có như thế, chúng ta mới bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ đất nước và chủ quyền dân tộc.

N.D.Xuân.

Sông Bến Hải



Sông Bến Hải.

Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ tây nam sang đông bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở thượng nguồn nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30 m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải.

Từ đầu nguồn sông Bến Hải chẩy được 80 km thì gặp sông Sa Lung từ phía tây bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương.

Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8lần.

Cây cầu đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng bê tông cốt sắt dài 178 m, rộng 4 m, hai bên có thành chắn cao 1,2 m, trọng tải tối đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền bắc một nửa, miền nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song song, trừ cảnh sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ được đứng trong phạm vi giới hạn nam bắc của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập.

Mỗi đầu cầu có một đồn cảnh sát 16 người (phía bắc gọi là đồn công an) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa Tùng cũng có một đồn cảnh sát ở bờ bắc thuộc xã Vinh Quang và một đồn ở phía nam thuộc xã Cát Sơn. Sau năm 1965khi chiến tranh leo thang thì hệ thống đồn bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động.

Phục vụ tại sư đoàn 1 bộ binh từ 1963 đến 1965, tôi đã nhiều lần ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên. Vì là trong vùng 5 cây số phi quân sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục, nếu đi quân xa thì phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng số quân xa.

Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc. Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc.

Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với tướng Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên công an miền Bắc sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin cộng sản phản đối sự hiện diện của tướng Thi ở vùng phi quân sự. Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế Đình chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là tướng Thi ngoài chức vụ tư lệnh sư đoàn có là đại biểu chính phủ tại khu 11 chiến thuật, một trách vụ hành chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu.

Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến Hải. Hôm ấy tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Saigon áp lực đảo chính, ở ngoài giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Saigon cùng với tin tức và kêu gọi của hai phe, đảo chính và phản đảo chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai anh công an miền Bắc đến chào hỏi “đồng bào”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng tôi là mấy anh tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý Hồng Sen nhanh trí đáp lại:

Bên tôi dân chủ như vậy đó, ai làm việc không được thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ dân chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh.

Nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo Nguyễn Khánh, rồi đòi anh công an trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên anh công an bị ngọng, trách ngược lại người “đồng bào” kỳ cục. Chúng tôi bồi thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn chữ “Nam Bắc Một Nhà”, giữa nhà sao lại xây cổng?

Khi Không quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhiệm vụ của quân y sư đoàn là bay trên trực thăng phía nam sông Bến Hải để yểm trợ cứu cấp trường hợp phi công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng tiếp cứu đuợc phi công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được sâu về phía nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa, chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị quân sự và y khoa phải tháo gỡ cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế.

Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được.

Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền Nam, công binh cộng sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20 m về phía thượng lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.

Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc điều đình mặc cả giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận sông Bến Hải làm ranh giới, Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất bản thì có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những nét chính yếu.

Vào tuần lễ thứ ba của hội nghị, phương án vạch một giới tuyến nam bắc hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới, các nước phương tây phản đối dữ dội.

Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng.

Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng dài về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước mắt có ba khả năng, thượng sách là hòa được, trung sách là đánh rồi hòa, hạ sách là đánh tiếp. Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi chia vùng ở vĩ tuyến 18 và vì vĩ tuyến 16 ở phía nam Đà Nẵng nên muốn trấn an người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở phía bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác.

Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ hòa bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên quan đến phương án giải quyết cụ thể.

Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị đồng ý chọn vĩ tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng, khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp tỉnh trở lên, nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí.

Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: đó không phải là giả thiết mà là sự thật.

Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hòa cũng có khả năng chiến, phương hướng chủ yếu là tranh thủ hòa chuẩn bị chiến. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là kháng chiến đến cùng, bây giờ lại muốn hòa, đối với người bình thường thậm chí là cán bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây. Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ mà hiện nay không đủ, vẫn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ.

Ngay trong ngày kết thúc hội nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “phương án thấp nhất trong đàm phán” (chấp nhận vĩ tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành.

Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, hội nghị thảo luận và sửa chữa bốn điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp theo bàn luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Quí Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố kết thúc hội nghị.

Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày 12-7-1954, nghe các phụ tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ trưởng Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng đoàn đại biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng thời còn có tư tưởng Liên bang Đông Dương, không phân biệt nổi cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.

Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, trong khi Trung ương Cộng sản Trung Hoa và Bắc Việt đồng ý lấy vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu Quốc Gia VN vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15.

9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của đoàn đại biểu Việt Minh hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử thăm dò vĩ tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi vĩ tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục đánh nhau, ít ra cũng phải ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

Chu Ân Lai cho rằng nếu Việt Minh muốn giữ vùng tập kết tại Liên Khu Năm (Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ vùng tập kết tại đồng bằng sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới vĩ tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng quốc gia ở phía bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất.

Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm giới tuyến, dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.

Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ 30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu Ân Lai và nói: không có đường giới tuyến nào thích hợp hơn vĩ tuyến 18. Nhất định ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa vĩ tuyến 13 đến 16, thế nhưng giữa vĩ tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh.

Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố như Hà nội Hải phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về dân số, chính trị, kinh tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy dân số ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 dân, còn Việt Minh chỉ phải rút có 30.000 người.

Vạch đường giới tuyến về địa lý, lịch sử và logique đều nên lấy porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang) gần vĩ tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho hòa bình được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng ngoài cuộc đàm phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ.

Đến ngày 19 tháng 7, cuộc đàm phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường giới tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các phụ tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị phụ tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều. Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, thứ trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, phụ tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường giới tuyến khoảng 10 cây số về phía bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá. Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập khu phi quân sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và vĩ tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm giới tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề tổng tuyển cử…

Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì đại biểu Campuchia, đại biểu Lào và đại biểu Quốc Gia Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với quốc hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng đại biểu quân sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, thiếu tướng Delteil đại diện quân đội viễn chinh Pháp, thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên hiệp định đình chiến. Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly sâm banh. Delteil trả lời: chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình.

Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó.

Hiệp định Genève 20-7-1954 (*) lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.

Phạm Hữu Trác.

Huế Và Số Phận Miền Nam VIỆT NAM



Huế Và Số Phận Miền Nam VIỆT NAM.

Xin được góp ý về số phận của Miền Nam Việt Nam đã gắn liền với Huế như thế nào. Ảnh hưởng của các “Biến động Miền Trung”.

I - BẤT LỢI VỀ ĐIẠ THẾ TRONG VIỆC PHÒNG THỦ QỦANG TRỊ , THỪA THIÊN VÀ HUẾ.

Phía tây của vùng đất này có đèo Lao Bảo. Đèo Lao Bảo là một cửa khẩu rất thuận tiện để xâm nhập người và vũ khí từ Miền Bắc, băng ngang lãnh thổ Lào rồi nối liền với QL.9để vào thung lũng A Sau-A Lưới và Qủang Trị, Thừa Thiên. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, Khe Sanh, Lao Bảo và nhất là vùng thung lũng A Shau, A Lưới đã bị bỏ ngỏ hoàn toàn, quân đội Bắc Việt đã hoàn toàn tự do di chuyển và đóng quân trong vùng này. Binh lính và quân trang quân dụng, đại pháo, xe tăng, hỏa tiễn, đường ống dẫn dầu từ miền Bắc đã được vận chuyển rất mau lẹ và dễ dàng vào an toàn khu A Shau, A Lưới. Dựa theo nhận định tại chỗ, qua chuyến đi dọc theo đường mòn HCM, chúng ta thấy rằng, vào mùa khô, quân xa của Miền Bắc chỉ mất hơn một ngày đường để đi từ Vinh tới an toàn khu A Sau – A Lưới. Địch có thể tung hoành tại vùng này như vậy vì nhiều lý do:

- Trước hết, đây là một vùng đất tương đối bằng phẳng, không phải vượt qua các đèo cao dốc thẳm quá sức cheo leo hiểm trở, hơn nữa đường giao thông lại đã được công binh Mỹ làm sẵn từ trước là QL.9 từ Lao Bảo tới Khe Sanh và QL.14 dọc theo thung lũng A Shau.

- Lý do thứ hai là không những chúng ta không còn hỏa lực hùng hậu của không quân, nhất là của B 52, mà ngay cả pháo binh cũng không tác xạ tới vùng này được, dĩ nhiên chúng ta cũng không đủ khả năng để tổ chức các cuộc hành quân truy quét diệt địch.

- Tóm lại, địch đã có thể dễ dàng từ Bắc chuyển quân và tập trung tại vùng an toàn tại thung lũng A Sau để từ đó đánh tập hậu xuống Huế và Quảng Trị. Như chúng ta đã biết, ở phía Bắc thung lũng, gần Quảng Trị, có mật khu Ba Lòng, gần phía cực nam của thung lũng này, tại ngã ba Bốt Đỏ, một con đường dẫn về Huế cũng đã có sẵn từ xưa và cũng chỉ cách Huế chừng 50 km. Chính Tướng Westmoreland cũng đã xác nhận, lực lượng Cộng quân tại vùng thung lũng này giống như một ngọn giáo kề vào cổ Huế.

Đọc đến đây và nhìn vào bản đồ vùng giới tuyến, nhiều người sẽ tự hỏi, vậy thì chúng ta bố trí hai lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến tại phía nam sông Bến Hải làm gì. Địch đâu có cần phải vượt qua vùng giới tuyến này để tấn công Quảng Trị và Huế. Bài học về chiến lũy McNamara mới đây và chiến lũy Maginot trong thế chiến thứ hai còn quá gần, chả lẽ lại không được lưu ý tới. Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa 1972, địch đã phải tràn qua sông Bến Hải vì khi đó hỏa lực không quân của quân đội Mỹ còn rất mãnh liệt, đường mòn HCM vẫn còn bị oanh tạc liên tục suốt ngày suốt đêm, riêng trong vụ tổng công kích Tết Mậu Thân, thì nút chăn Khe Sanh vẫn còn do quân đội Đồng minh chiếm giữ.

Nếu không bị chôn chân tại đây, nếu được đặt trong tình trạng tiếp ứng di động, hai binh chủng tổng trừ bị tinh nhuệ Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến sẽ trở thành những lực lượng xung kích hữu hiệu như thế nào, mọi người đều đã quá rõ. Bằng chứng hùng hồn nhất là thành tích đánh bật cộng quân ra khỏi các thành phố trong dịp tết Mậu Thân. Cũng chính vì không còn lực lượng trừ bị để tái chiếm Ban Mê Thuột nên đã kéo theo sự sụp đổ mau lẹ của toàn Miền Nam Việt Nam .

Tóm lại, hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã ở trong tình thế lưỡng đầu thọ địch, sẽ dễ dàng bị đánh cả trực diện từ Sông Bến Hải, lẫn ngang hông từ thung lũng A Sau.

II - HUẾ VÀ SỐ PHẬN MIỀN NAM VIỆT NAM.

Như mọi người đã biết, trong các cuộc bàn cãi mặc cả để kí kết Hiệp Định Geneve ngày 20/7/1954, phe CSBV đòi tới vĩ tuyến 16, tức là ngang đèo Hải Vân, Pháp và phe Quốc Gia đòi tới vĩ tuyến 18, tức là Đèo Ngang (phiá bắc Quảng Bình). Sau cùng đôi bên đã dung hòa, chấp nhận vĩ tuyến 17, ngang qua sông Bến Hải.

Mặc dầu Quảng Trị, Thừa Thiên hoàn toàn bất lợi về phòng thủ như đã trình bày ở trên, nhưng Chính phủ quốc gia VN đã hoan hỉ chấp nhận đừơng phân ranh này là vì các lý do tình cảm sau đây:

- Huế là nơi có mồ mả cha ông của cựu hoàng Bảo Đại.

- Huế cũng là quê hương của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm.

- Huế là thủ đô của Việt Nam lúc đó, còn giữ được thủ đô là coi như còn giữ được cả nước. (Ý của LM Cao Văn Luận trong “Bên Dòng Lịch Sử”).

Trái lại, dưới cái nhìn chiến lược, sự việc lại hoàn toàn khác:

1- Trước nhất là nếu chúng ta đòi được tới vĩ tuyến 18, tức là Đèo Ngang, còn gọi là Hoành Sơn, thì có lẽ lịch sử đã hoàn toàn đổi khác:

- Ai trong chúng ta cũng đều còn nhớ lời khuyên cũa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khịêm dành cho Nguyễn Hoàng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Nguyễn Hoàng đã nghe theo lời khuyên đầy tính cách chiến lược này vì quân của Chúa Trịnh từ phương Bắc sẽ rất khó vượt qua đèo Ngang để tấn công quân của Chúa Nguyễn được, chúng chỉ có thể sử dụng thủy quân. Đối với Việt Nam Cộng Hòa, nếu đòi được đến Đèo Ngang, ngoài lợi điểm về phòng thủ nêu trên, chúng ta sẽ còn kiểm soát được Đèo Mụ Giạ là một con đường rất thuận lợi để chuyển quân sang Lào rồi xâm nhập vào Miền Nam vì Đèo Mụ Giạ nằm ở phía nam vĩ tuyến 18. Không có đèo Mụ Giạ này, đường xâm nhập của quân đội miền Bắc qua đất Lào sẽ là những ngọn đèo hiểm trở và xa xôi về phiá Bắc.

- Như vậy, với sự chấp nhận vĩ tuyến 17, chúng ta đã giúp CS Miền Bắc có hai cửa khẩu rất thuận tiện, cửa khẩu Mụ Giạ để sang Lào và cửa khẩu Lao Bảo để từ Lào vào Miền Nam. (Có lẽ chúng ta cũng chẳng nên chê trách các nhà lãnh đạo Miền Nam thời đó nhiều quá, vì sau này, chính Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cũng đã rất ngây thơ mà xây dựng nên chiến luỹ điện tử Mc.Namara chạy dọc theo vĩ tuyến 17. Sau khi ép được Bắc Việt ký kết công nhận nền trung lập của Lào, nghĩa là CS Bắc Việt hứa là sẽ không dùng đất Lào để chuyển quân vào Miền Nam VN, mọi người đã phủi tay mỉm cười khoan khoái, tin tưởng rằng Miền Nam VN sẽ được an toàn 100% vì Bắc Việt sẽ hết còn con đường nào để chuyển quân vào Miền Nam nữa?! )

2- Nếu trong Hiệp Định Đình Chiến Genève 20/7/1954, chúng ta chấp nhận vĩ tuyến 16, ngang qua Đèo Hải Vân, việc phòng thủ cũng sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn tại vĩ tuyến 17gấp bội vì những lý do sau đây:

Trái ngược hẳn với Thừa Thiên và Quảng Trị, phần đất còn lại của Vùng I, từ Quảng Nam trở vào, thiên nhiên đã dành cho vùng này những yếu tố hết sức thuận tiện cho việc phòng thủ. Hướng Bắc và hướng Tây, hai hướng tấn công chính của Bắc quân, đã được che chắn bởi hai chiến lũy thiên nhiên vô cùng kiên cố là dẫy Bạch Mã ở mặt Bắc và Cao nguyên Trung phần ở mặt Tây.

Trước nhất là về mặt bắc, dẫy núi Bạch Mã là một chiến lũy thiên nhiên hết sức vững chắc, gần như không thể vượt qua, vì các lý do sau đây:

- Dẫy Bạch Mã chạy theo hướng Đông - Tây, nghĩa là chắn ngang miền Trung, từ đèo Hải Vân, sát bờ biển, cho tới cao nguyên Bolovens bên Lào.

- Đây là một dẫy núi có chiều cao gần như liên tục, không hề bị ngắt quãng bởi những ngọn đèo thấp để vượt qua, càng về phía biên giới càng cao và càng hiểm trở. Ngọn Bạch Mã gần Đà Nẵng cao 1444 mét, ngọn núi Mang ở giữa cao 1708 mét, ngọn A Tuất sát biên giới Lào cao 2500 mét.

- Ngoài hai địa điểm Thành Mỹ (Thường Đức) ở phía tây trên đường mòn HCM và đèo Hải Vân ở phía đông sát bờ biển, không có một ngọn đèo nào khác để vượt qua dẫy núi này. (Vị nào đã có bút ký Trường Sơn-Trường Hận, xin xem lại chương “Đại Lộ Kinh Hồn” mô tả những giờ phút dựng tóc gáy khi băng ngang dẫy núi hiểm trở và cao chót vót này). Bộ binh vượt qua được dẫy núi cao vời vợi này đã là thiên nan vạn nan, nói gì tới xe tăng, đại pháo.

Tại sao Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế có một vị trí hoàn toàn bất lợi về phòng thủ như vậy, mà ngay từ ngày 20/7/1954, khi ký Hiệp định đình chiến Geneve chia đôi đất nước, chính phủ Quốc Gia lại chấp nhận vĩ tuyến 17, ngang qua sông Bến Hải, một vùng tương đối bằng phẳng, rất thất thế trong việc phòng thủ? Phải chăng, ngay từ khi Hiệp định Geneve 1954 được ký kết, chúng ta đã mắc mưu của con cáo già HCM và mầm mống thất trận đã manh nha ngay từ ngày đó rồi.

Chỉ huy là tiên liệu. Địch đã tiên liệu cho một Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ngay từ ngày 20/7/1954!

Vũ Linh Châu.

Kèn Mặc Niệm Tử Sĩ



Kèn Mặc Niệm Tử Sĩ.

Nhiều người chúng ta đều đã nghe bài Kèn Mặc Niệm Tử Sĩ làm ta tiếc thương những người chiến sĩ hy sinh cho tổ quốc.

Nếu quý vị không biết nguồn gốc của bài kèn, thì quý vị sẽ rất cảm động khi đọc sau đây câu chuyện thật về lịch sử bài kèn đó.

Chuyện bắt đầu năm 1862 trong thời kỳ nội chiến Nam Bắc Mỹ (1861-1865)

Khi đội Bắc quân do đại uý Robert Ellicombe chỉ huy tới Harrison's Landing ở tiểu bang Virginia thì chạm địch, quân Nam đóng ở bên kia giải đất nhỏ hẹp ấy.

Đêm đó, đại uý Robert Ellicombe nghe thấy tiếng rên la của một binh sĩ bị thương nặng giữa trận tiền.

Không biết là lính của quân mình hay của quân địch, đại uý Ellicombe không ngại nguy hiểm tới tính mạng bò ra chỗ người thương binh nằm để mang anh về cứu chữa. Dưới cơn mưa đạn của hai bên ông ta kéo được anh về phía quân mình đóng.

Khi bò về tới nơi, đại uý mới thấy rằng anh binh sĩ đó là quân địch, và anh lính đã chết.

Đại úy rọi đèn và trong ánh sáng lờ mờ đại uý nhìn mặt anh binh sĩ, nhận ra là con mình.

Con của đại úy Ellicombe đang là sinh viên học nhạc ở miền Nam thì chiến tranh Nam Bắc khởi sự, cậu sinh viên đăng vào lính quân Nam mà không cho cha biết.

Sáng hôm sau, lòng buồn rầu trái tim tan vỡ, ông trình thượng cấp biết và xin phép chôn con theo lễ nghi quân cách, mặc dầu con ông là địch quân.

Ông cũng xin cho dàn quân nhạc cử hành tang lễ.

Thượng cấp cho phép, nhưng hạn chế một phần. Thay vì toàn ban quân nhạc cử ai mặc niệm tiễn biệt tử sĩ thì thượng cấp chỉ cho một nhạc sĩ cử nhạc thôi.

Ông đại úy tuân lệnh trên và xin cấp trên cho một nhạc sĩ thổi kèn trận (clairon)

Đại úy nhờ anh nhạc sĩ thổi những đoạn nhạc ghi trên một mảnh giấy mà ông tìm thấy ở trong túi binh phục của con ông.

Những đoạn nhạc đó kết thành bài Kèn Mặc Niệm Tử Sĩ mà chúng ta nghe thấy ngày nay mỗi khi có lễ Kỷ niệm binh sĩ trận vong ( như ngày 11 tháng 11 ở nước Pháp).

TTV.
(Sưu Tầm)

Lạc Lối Về


Lạc Lối Về.

Nhớ lại,hai mươi tuổi, tôi bị tù Cộng sản vì “phản động”.

Hầu như mỗi tuần, tôi đều phải lên “làm việc” ít nhất một lần với Ban quản giáo trại tù. Họ bắt tôi phải nhận diện những anh chị em “phản động” vừa mới bị bắt. Tôi nghiến răng lắc đầu. Cứ như thế, sau những cái lắc đầu là những trận đòn dữ dội lên đầu lên mặt. Đau đớn thể xác, nhưng nước mắt không chảy được vì nỗi đau tinh thần còn to còn lớn hơn đến ngàn lần.

Không cần xét xử, chỉ cần đánh đập. Đánh đập mỏi tay, họ thả tôi ra… tôi tiếp tục.
Tuổi mộng mơ của tôi, là những ngày chạy trốn những con mắt rình rập, là những ngày ra vào tù với những đòn thù bầm dập thân xác, là những lúc cố đừng bật lên tiếng kêu khi chứng kiến người yêu gục xuống, trong tra tấn dã man, trong tiếng cười man rợ giữa người và người.
Lần ở tù cuối cùng, là vào những ngày cuối năm, tôi không bị biệt giam, tôi được nhốt trong trại tù phụ nữ.

Họ là những người đàn bà, “phản động”, đã cùng chồng không chịu buông súng – mặc dầu đã có lời kêu gọi đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh.
Họ là những thiếu nữ đồng lõa, “phản động”, đã dấu diếm, những người lính ngã ngựa đang bị thương tích trong nhà.

Và tôi, Năm ấy, trong tù đêm giao thừa, tôi nghe những tiếng nấc, tiếng trở mình của những tấm thân còm cõi, tất cả chung quanh lồng lộng nỗi cô đơn, thấm thía nỗi nhớ nhà.
Riêng tôi, khắc khỏai, nhớ cha đang ở tù nơi miền Bắc xa xôi, nhớ mẹ với những giòng lệ xót xa ái ngại, và nghẹn ngào thầm hỏi: Có chăng một ngày, người hải ngoại trở về cứu nước cứu dân ?.

Cứ như thế, ba mươi mấy năm sau, có khác gì hơn, cũng những người phụ nữ can trường, cũng tù cũng tội, cũng năm tháng trôi qua, không bao giờ đựợc xét xử, nếu có xử thì bị xử một chiều với những bản án nặng nề oan ức.
Cũng những người phụ nữ, trái tim rất lớn, rất lớn. Họ bị canh giữ trong bốn bức tường ẩm mục: Thương chồng, thương con, thương đồng bào chỉ muốn hét to cho vỡ lồng ngực, cho cả thế giới nghe những nhục nhằn mà tất cả, mà chính họ đang gánh chịu, như Trần Khải Thanh Thủy, như Lê thị Công Nhân, như Phạm Thị Thanh Nghiêm.
Đau lắm thay !!!

Ba mươi mấy năm sau, tại quê hương tôi hôm nay thực trạng xã hội Việt nam quá bi đát, trong nước đấu tranh sục sôi, từng giờ từng phút những người dân chủ chạm mặt với bắt bớ đánh đập tù đày.
Tại hải ngoại, tình trạng đấu tranh dân chủ cho đất nước lại bi đát hơn. Trên các diễn đàn điện tử đầy rẫy những bài viết phân tích, tranh cãi về việc “thắng – thua” của cuộc chiến ba mươi sáu năm về trước, đầy rẫy những kèn cựa chữ nghĩa, lý thuyết mà thiếu vắng hẳn những ý kiến cụ thể, những khuyến khích kêu gọi thực tiễn.
Phải chăng tất cả đã LẠC LỐI VỀ ???

Tranh cãi “thắng – thua” để làm gì khi giáo dục xuống dốc, văn hóa bị phá sản, dân chúng cả hai miền đất nước đang đói khổ, cả giải sơn hà, đất biển đang bị mất dần vào tay ngoại bang? Đọc hoài một điệp khúc “bức tử” trong ngày 30/4, có ích lợi gì khi không có một giải pháp thực tế, để kêu gọi những nỗ lực đóng góp ngăn chặn những hành động cưỡng bức của bịt miệng, của cướp đất, của mãi dâm đầy rẫy trên đất nước sau ba sáu năm cái gọi là thống nhất ?

Tại sao, cứ phải cúi đầu mặc niệm cho những đau thương rồi lại phải tìm cách qui trách nhiệm cho nhau trong khi tất cả đều thua và tất cả đều phải có trách nhiệm ?
Vâng, bạn à, tất cả chúng ta đều thua, và chúng ta sẽ mãi mãi thua nếu chúng ta mãi mãi ngồi nặn óc tranh cãi, bút chiến để dành “chính nghĩa”, và kèn cựa chữ nghĩa để thỏa mãn tự ái cá nhân, chúng ta cũng sẽ mãi mãi thua nếu chúng ta mãi mãi cúi đầu câm nín, nhận bổng lộc ban phát từ quan thầy bất xứng, nếu chúng ta mãi mãi nhắm mắt bịt tai trước những thống khổ của người Dân Oan, trước những giọt nước mắt âm thầm tủi nhục cô đơn của các em gái đang lưu lạc bán dâm trên các vỉa hè.

Ba mươi sáu năm trôi qua là một thước đo quá dài cho những chấn hưng đất nước. Thực trạng xã hội bây giờ là một minh chứng hùng hồn cho những thất bại liên tiếp của chính sách ngu dân đuơng thời và đồng thời cũng phản ảnh lên sự bất tài của chính chúng ta, những người tự nhận là trí thức.

Hỡi Bạn, chúng ta hãy chấm dứt ngay những than khóc, hoài niệm. Hãy khẳng định lại cuộc hành trình của chúng ta trong tiến trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước.
Chúng ta hãy cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm, cùng khai thông, cùng giải quyết những vấn nạn của đất nước. Hãy nhìn thẳng về phía trước, nhìn thẳng vào tương lai thế hệ đàn em của đất nước mà bắt tay vào việc, những việc rất cụ thể rất thực tế để xây dựng lại một xã hội nhân bản, công bằng, dân quyền.

Trở lại, câu chuyện chúng ta có phải vì nóng lòng cho việc đấu tranh dân chủ cho quê hương hiện tại, rất nhiều người ưu tư cho sự đóng góp quá ít ỏi, nếu không muốn nói là thiếu vắng của giới phụ nữ.
Nỗi ưu tư này có chính đáng không ? Kết luận có vội vã và bi quan quá chăng ? Xin, đừng vội trách, giới phụ nữ, đứng ngòai lề cuộc đấu tranh.
Phụ Nữ trong và ngoài nước đang góp phần đấy chứ, nhưng vì quan niệm “tham gia” của chúng ta hạn hẹp nên chúng ta không nhìn thấy những góp phần tiềm ẩn trong đời sồng hàng ngày của mọi người.

Thế nào là đóng góp ? Thế nào là tham gia ?: Nếu tham gia đấu tranh là phải ngồi vào bàn hội thảo, phải có những trận bút chiến, tranh cãi bàn tán thời sự thế giới thì quả thật phụ nữ đang đúng ngoài những ý tưởng quá cao xa ngoài tầm với.
Nếu tham gia là bảo vệ lẫn nhau trong những áp bức hàng ngày, nếu tham gia là rỉ tai bất bình trước cái xấu của các quan chức, là gióng lên tiếng chuông, tố cáo trước dư luận những đàn áp bóp nghẹt tự do dân chủ, cảnh báo về những nổi thống khổ của người dân thì phụ nữ đang góp phần.
Nếu không có sự tham gia của giới phụ nữ làm sao chúng ta có: Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân ? nào Lê Thị Kim Thu, nào Phạm thị Thanh Nghiêm, Hồ Bích Hường
còn nữa Đỗ Thị Minh Hạnh, một thiếu nữ sinh năm 1985, bị bỏ tù vào những ngày Tết năm 2005, khi tròn 19 tuổi.

Đó là câu chuyện trong tù, còn những câu chuyện ngoài tù thì sao ??? Ngoài tù, Chúng ta cũng không thiếu những tiếng nói hùng hồn từ những người phụ nữ nông dân, hay giới lao động. Và còn biết bao đóng góp âm thầm hàng ngày dưới nhiều hình thức từ những cụ già nơi làng quê đến các chị buôn thúng bán bưng nơi thị tứ, những người dân oan đang đấu tranh âm thầm không ngưng nghỉ.

Còn nữa kể không hết những tận tụy hy sinh của vợ các nhà bất đồng chính kiến. Như chị Đoàn Viết Hoạt, chị Nguyễn Đan Quế, Vợ ông Vi Đức Hồi, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, vợ bác sĩ Phạm Hồng Sơn vợ luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ. ngoài việc thay chồng âm thầm tần tảo nuôi dạy con cái, họ cũng đã không ngừng góp tay vào cuộc đấu tranh chung, họ mạnh mẽ lên tiếng tố cáo trước công luận về chế độ cộng sản đang bóp nghẹt tự do dân chủ, đàn áp những người yêu chuộng tự do.

Chúng ta đều biết cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay mang tính chất khác hẳn các cuộc đấu tranh từ trước đến giờ.
Đây, không phải là cuộc đấu trí giữa hai chủ nghĩa kình chống lẫn nhau, cũng không phải là cuộc chiến bom đạn cần phải có các tướng lãnh quân sự tài ba, mà đây là cuộc đấu tranh của quần chúng, của tất cả mọi người, của mọi tầng lớp trong xã hội.
Cuộc đấu tranh này, là cuộc đấu tranh cho một xã hội nhân bản, công bằng là cuộc đấu tranh xây dựng giáo dục, nâng cao trí thức, bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đất nước.

Xưa kia, để giữ bờ cõi biên cương, các vị vua quan tướng lãnh, đã cho xây thành đắp lũy chống kẻ giặc thù. Ngày nay, giặc đã lẫn trong thành đang chiếm đất chiếm nhà, nên thành lũy xây bằng bê tông cốt sắt bằng gạch đá đã trở thành vô dụng.

Bây giờ, muốn giữ được nước, thành phải được xây trong dân, trong lòng từng người dân Việt nam. Đây chính là mấu chốt của cuộc đấu tranh dân chủ cho đất nước. Thu phục được nhân tâm, thu phục được quần chúng chính là tạo nên sức mạnh, là tạo nên một lực lượng dân tộc. Một lực lượng dân tộc cùng quật khởi đứng lên chống lại độc tài đảng trị, chống áp bức bất công. Không một cá nhân nào có thể chuyển hóa cuộc đấu tranh dân chủ nếu không có lực lượng dân tộc.

Muốn thu phục nhân tâm, muốn thu phục quần chúng, hãy đến gần với quần chúng, hãy đập cùng nhịp tim, hãy đi cùng nhịp bước.
Thực tế, trong nước đang có một khoảng cách rất lớn giữa những người đấu tranh dân chủ và khối quần chúng thầm lặng. Có một số người không hề hay biết về những biến động dân chủ đang xảy ra trong giới trí thức. Có một số người không hề hay biết về những cuộc biểu tình dân oan khi khoảng cách hai nơi là hai đầu đất nước. Không phải vì họ thờ ơ, không phải vì quần chúng nhút nhát, nhưng vì thông tin bưng bít, và vì đời sống nghèo khổ họ đành nhận chịu hoặc đành làm ngơ trước những bất công, áp bức.
Vì không có sự kết hợp giữa tầng lớp quần chúng và các nhà dân chủ đấu tranh, nên cuộc đấu tranh trở nên ô hợp, đơn điệu, thiếu kỹ thuật và dễ bị dẹp tan.
Tất cả lỗi chúng ta, lỗi của những người tự nhận là có đầu óc, có suy nghĩ đang hướng dẫn cuộc đấu tranh tự phát này.

Lại thêm, lỗi lầm khác của hầu hết những người dân chủ tại hải ngoại là chạy theo những nhà đấu tranh có tên tuổi đang lên trong nước, mà bỏ quên hẳn khối người vô danh thấp cổ bé miệng, khối người sẽ góp phần đấu tranh rất hữu hiệu nếu được tác động đúng mức.
Chiến thuật “lấy thôn quê bao vây thành thị” vẫn còn giá trị trong cuộc đấu tranh này. Đây chính là sự kết hợp giữa quần chúng với những người đấu tranh. Khi nào những tên quan quyền cướp của hại người không dám về các vùng ngoại ô trong lúc tối trời, khi nào các nhà đấu tranh dân chủ bị lùng bắt và được các nông dân che dấu bảo vệ cho nương náu, thì lúc đó chúng ta mới có thể bàn đến chuyện thực hiện cách mạng Hoa Lài, Hoa Sen.
Và người hải ngoại là những người có đầy đủ phương tiện để thay đổi khối quần chúng thụ động thành khối người đấu tranh hữu hiệu.

Bạn hỡi, hãy thôi, ngồi nói chuyện lý thuyết viễn vông. Hãy thôi tranh cãi những đề tài quá khứ, nếu chúng ta thực sự muốn sự đóng góp của tất cả mọi người. Hãy vạch ra một hướng đi rõ ràng với những kế hoạch cụ thể để khỏi nhốn nháo chạy theo những biến động chung quanh. Hãy khiêm tốn đừng nghĩ mình có tài kinh bang tế thế hơn người khi dùng được vài ba từ ngữ chính trị, mà chạy theo danh tiếng, mà chê bai tự cách biệt rào mình trong thế giới hào quang ảo tưởng.

Hãy phối hợp hoạt động để tạo mũi nhọn. Hãy học hỏi và áp dụng những kỹ thuật tân tiến vào những công tác đấu tranh. Hãy dùng âm nhạc, thơ văn để kích động tinh thần yêu nước. Hãy tạo những nhóm hay tổ trong những sinh hoạt hàng ngày để tạo mối dây liên lạc. Hãy truyền bá những bài viết bình dân giản dị dễ hiểu. Hãy đem sức sống đến tận thôn xóm làng mạc xa xôi. Hãy mang tin tức truyền đạt đến khắp mọi nẻo đường đất nước.

Và còn ai nữa làm nhiệm vụ này hiệu quả bằng những người phụ nữ Việt Nam nếu chúng ta khởi xướng ?
Có gì đánh động lương tâm thế giới bằng nơi quê nhà hàng ngàn phụ nữ xuống đường bất bạo động đòi hỏi quyền làm người, đòi hỏi nhân phẩm được tôn trọng. Họ chính là những cô gái lưu lạc trên các vỉa hè, chính là những bà mẹ dân quê cả đời không biết lấy một từ ngữ chính trị, chính là những người chài lưới ven sông hay đánh cá giữa trùng dương sóng gió.

Có gì hiệu quả bằng phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại từng nhóm từng tổ chức, cùng một lúc gõ cửa kêu gọi các tổ chức ngoại quốc, cùng lên tiếng tố cáo những vi phạm nhân quyền trắng trợn, cùng yêu cầu can thiệp cho những đàn áp phụ nữ nơi quê nhà.
Hải ngoại thì công tác quốc tế vận, quốc nội với trực diện đấu tranh.
Công việc này, sẽ thu hút được nhiều đóng góp cụ thể, và sẽ mang đến kết quả cụ thể.
Bạn ơi, hãy nghiêng mình xuống, thương cảm và tìm đến với tất cả mọi người trong xã hội. Bà già bán rau vỉa hè có công tác của người bán rau vỉa hè, người viết văn có bổn phận của người viết văn. Đất nước ta lúc nào cũng có những người đàn bà góp phần vào lịch sử.

Vậy đó, giờ đã điểm, chúng ta phải động não, chúng ta phải đúng dậy, mà đi với trăm ngàn cái hãy và trăm ngàn cái phải làm. Đừng để những tiếng nói quả cảm của những phụ nữ can trường tắt lịm dần trong bóng tối tù ngục Cộng sản, đừng để LẠC LỐI VỀ.

Bình Minh.