Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Cờ Của Dân Tộc Việt Nam.
Cờ vàng ba sọc đỏ không phải chỉ là cờ của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng
Hòa, mà đã có từ thời vua Thành Thái từ năm 1890 kéo dài 30 năm cho
đến năm 1920 (1*). Đến thời Bảo Đại khi ông Trần Trọng Kim làm thủ
tướng, cờ truyền thống nền vàng ba sọc đỏ đã được chính thức công nhận
là quốc kỳ bằng sắc lệnh số 3 ngày 2/6/1948, do Thiếu Tướng Nguyễn Văn
Xuân ký với tư cách thủ tướng chánh phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam lúc
ấy (2*).
Cờ Việt nền vàng bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt có từ thời Hai
Bà Trưng, được cải tiến nhiều lần qua thời gian và cuối cùng có hình
dạng nền vàng ba sọc đỏ như hiện nay. Để biểu lộ lòng yêu dân tộc và
trung thành với truyền thống dân tộc Việt thì cờ của dân tộc Việt Nam
phải có nền vàng.
Như vậy, cờ vàng ba sọc đỏ – đã có từ 118 năm trước (tính đến năm nay,
2008) – không phải chỉ là cờ của một chế độ hay một thể chế chính trị
nào, mà là quốc kỳ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Khi Việt Nam bị
chia đôi thành hai miền Nam Bắc, các Chính phủ Miền Nam dưới thời Đệ
Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, do trung thành với truyền thống dân tộc, đã
dùng lá cờ vàng của dân tộc làm quốc kỳ. Dưới ngọn cờ biểu tượng cho
chính nghĩa Tự Do này, tập thể dân quân miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã
chiến đấu để tự vệ, chống lại cộng sản xâm lược từ miền Bắc vốn được
Liên Sô và Trung Quốc đắc lực trợ giúp vũ khí và nhân sự.
Việt Sử là một lịch sử tranh đấu hào hùng, dai dẳng và kiên trì cho
nền tự do, độc lập của toàn dân tộc khi bị giặc Hán cai trị hàng ngàn
năm, bị giặc Tây đô hộ gần 100 năm, và hiện nay đang bị giặc nội xâm
cộng sản toàn trị suốt mấy chục năm qua. Qua các cuộc tranh đấu cứu
nước, cờ của dân tộc, dù thay đổi tùy thời đại, luôn luôn có nền màu
vàng. Người Việt hải ngoại và các chiến sĩ tự do đang đấu tranh ở quốc
nội coi Cờ Vàng là biểu tượng cho cuộc tranh đấu dành lại tự do, dân
chủ và độc lập cho dân tộc Việt Nam. Vì thế, cờ vàng ba sọc đỏ minh
nhiên là cờ chung của cả dân tộc Việt Nam và của những người Việt Nam
đang theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho tự do dân chủ.
Năm 1975, cộng sản miền Bắc đã cưỡng chiếm được Miền Nam bằng bạo lực
tàn ác và những thủ đoạn chính trị gian xảo, nước Việt Nam được thống
nhất dưới chế độ cộng sản độc tài hà khắc. Đảng cộng sản đã áp đặt
người dân hai miền phải dùng lá cờ nền đỏ sao vàng. Nền đỏ là nền cờ
của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như của Đảng Cộng Sản Quốc Tế (với
hình búa liềm). Nó hoàn toàn không có tính dân tộc hay tình tự dân
tộc. Người Việt gọi là "cờ máu" rất đúng vì cờ này được xây dựng trên
máu xương của hàng triệu người dân vô tội đã chết cách hết sức oan
uổng. Thật vậy, dưới lá cờ này, người dân Việt Nam đã phải hy sinh quá
nhiều xương máu một cách thê thảm, phí phạm và vô ích. Những lá cờ nền
đỏ của các nước cộng sản đều có nhiều nét tương tự nhau: cờ Liên Sô có
một sao đỏ và hình búa liềm, cờ Trung Cộng có 1 sao lớn 4 sao nhỏ màu
vàng. Lá cờ CSVN có một sao lớn màu vàng y hệt như lá cờ của tỉnh Phúc
Châu Trung Quốc. Nó chỉ có thể là cờ riêng của một chế độ CSVN, một
chế độ độc tài tàn ác, đàn áp bóc lột nhân dân, tước đoạt mọi quyền
của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo và quyền căn bản nhất là
quyền tự vệ trước sự đàn áp bóc lột của chế độ. Đó quả là một chế độ
hoàn toàn ngược lại với ý chí và quyền lợi của dân chúng. Vì thế, cờ
đỏ sao vàng của CSVN hoàn toàn không phải là cờ của dân tộc, trái lại,
nó là lá cờ thù nghịch với dân tộc Việt Nam, thù nghịch với các tôn
giáo, các tín đồ tôn giáo.
Không sống nổi dưới chế độ phi nhân này, trên 3 triệu người Việt đã
phải vượt biên vượt biển tìm tự do, mang theo lá cờ vàng ba sọc đỏ
thân yêu bắt nguồn từ truyền thống dân tộc. Kể từ đó, lá cờ này đã trở
thành biểu tượng của Tự Do cho toàn thể khối người Việt tự do trên
khắp thế giới.
Tóm lại, qua những trình bày trên, ta thấy cờ vàng là cờ truyền thống
của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã chọn màu cờ
vàng là cờ của quốc gia dân tộc. Trung thành với truyền thống đó, cờ
vàng ba sọc đỏ chính là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, chứ
không phải của riêng một thể chế nào.
Tôi rất lấy làm lạ khi thấy nhiều người từ trong nước ra hải ngoại –
kể cả những tu sĩ, những chức sắc cao cấp nhất, trí thức nhất trong
các tôn giáo – lại tỏ thái độ tránh né lá cờ Tự Do, lá cờ truyền thống
của dân tộc đã tồn tại từ 118 năm nay. Tại sao? Tại sao khi đến với
đồng bào hải ngoại thân thương ruột thịt, họ lại tỏ ra e ngại, tránh
né, thậm chí xúc phạm đến biểu tượng mà người Việt hải ngoại hết sức
trân quý, yêu thương, cũng là biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ, một nhu
cầu tối yếu mà chính người trong nước đang khao khát nhưng chưa có?
Phải chăng họ e sợ khi trở về nước sẽ bị công an trong nước bắt bẻ,
hành tội một cách phi lý? Là người trí thức, có khả năng ăn nói mạnh
mẽ và lý luận cao hơn người thường, lẽ nào họ lại không biết cách giải
thích phân minh cho công an, cán bộ cộng sản hiểu rằng: lá cờ vàng ba
sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà còn là cờ
truyền thống của dân tộc, của lý tưởng tự do dân chủ của người Việt?
Nếu CSVN đã công nhận người Việt hải ngoại là "khúc ruột ngàn dặm" của
họ thì mặc nhiên họ đã công nhận biểu tượng hay lá cờ của "khúc ruột
ngàn dặm" ấy rồi!
Các tu sĩ tôn giáo chắc chắn phải biết lá cờ nào là thù nghịch với tôn
giáo, với niềm tin tôn giáo của họ. Họ phải biết lá cờ nào đã từng chủ
trương tiêu diệt họ, hạn chế tự do tôn giáo của họ, và cờ nào là cờ
đang tranh đấu cho chính họ để họ được tự do hành đạo chứ! Chẳng lẽ họ
không phân biệt được cờ nào là bạn, cờ nào là thù?
Biết bao thường dân nhỏ bé, thậm chí là "liễu yếu đào tơ", tiếng nói
ít sức mạnh và ít ảnh hưởng hơn họ rất nhiều, thế mà vẫn dám đứng
thẳng lưng trước bạo quyền… Gương của những Lê thị Công Nhân, Phạm
Thanh Nghiên, Nguyễn Tiến Nam… là những người mới chỉ khoảng 30 tuổi
đầu, đã dám đối đáp với bạo quyền với tất cả khí phách của mình, gương
đó đang sờ sờ trước mắt họ! Lẽ nào đường đường là những "đấng", những
"ngài", những "bậc" với tiếng nói "có gang có thép" – lại chấp nhận
khom lưng, run sợ bạo quyền tới mức độ không dám hành xử theo lẽ phải,
theo lương tâm mình? Lẽ nào lại sẵn sàng làm những điều trái với lương
tâm, trái với chủ trương của đạo giáo mình, trái với những lời thề
nguyền của mình trước những đấng thiêng liêng (3*) …?
"Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng
bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết
rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc,
chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân và nô lệ ngoại bang. Bên
ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của
phía người Việt Nam chống lại chế độ cộng sản. Không biểu tượng nào
khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ
lòng tôn trọng Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi
ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào
việc giải phóng đất nước khỏi ách độc tài Cộng Sản" (4*).
Nguyễn Chính Kết.
onsdag 19. mai 2010
Bí Ẩn 30.4.1975
Bí Ẩn 30.4.1975.
Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là một biến cố đau thương nhứt của một đời người. Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, từng nổi tiếng với những bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ - đã đề cập công khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về biến cố lịch sử đặc biệt nêu trên.
Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được (xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.
2) Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?
Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 vừa qua quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?
Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra thảm họa 30.04.1975. Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết (bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãng tình thế.
Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và sắc tộc gốc Do Thái.
- Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.
- Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.
Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ("đi đêm"!) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái.
Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow... với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( - World Jewish Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái ) . Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright.
Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).
Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua Kissinger.
3) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam?
a) Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ
Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại Hoa Kỳ và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng.
Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Irish_ Americans) mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan)
Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem website http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Jewish_ American_ politicians# List). Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:
- trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái (so sánh chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh!).
- trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton...
- trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.
- trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.
- trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.
- trong Ngân Hàng Trung Ương (Fed) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.
Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh...
Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford... (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Jewish_ American_ entertainers). Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.
Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm . Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy ( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông . Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ .
b) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam ?
Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel (Thụy sĩ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này.
Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết (veto) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết (phản bội!) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan... , nhưng luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo (1,3 tỷ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.
Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.
c) Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.
Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman (đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 - 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng CSVN kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975.
Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.
Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ... bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác.
Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy ! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này và mới năm ngoái đây, vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai tử" miền Nam!
Israeli General Moshe Dayan on Patrol with US Marines - South Vietnam 1966
Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thăng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.
Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 - 1999)... Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.
Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.
Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.
Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau:
"Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất". Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:
“ Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”.
Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.
Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.
4) Kết luận
Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam.
Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miến Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến 35 năm sau dư luận vẫn còn bị xí gạt.
Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí dụ: Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam ( chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh .
Về phía Cộng Sản Bắc Việt , ngoại trừ lợi thế sẵn có của đường lối độc tài cuồng tín trong chiến tranh dám vô nhân đạo dùng chiến thuật biển người hy sinh " nướng quân " hàng loạt trên chiến trường ( theo nhận xét của Tướng Westmoreland ! ) , họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng " Đồng Minh tháo chạy " ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đức !) bỏ rơi VNCH . Thực tế , nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì Cộng Sản Bắc Việt sớm thắng trận . Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ ( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng rơi vào tay cộng sản như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.
Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái ( một phần bị ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh " Về miền đất hứa / Exodus " của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ. Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm " Bài học Israel ( Do Thái ) " . Nhưng thực tế chính trị cho thấy tham vọng thủ đoạn của Do Thái sau khi tái lập quốc , nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu của thế lực Do Thái khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam và dẩn tới hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.
Chúng tôi tin rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong đầu tiên tiết lộ những bí ẩn về thảm họa 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai triển tích cực để lịch sử Việt Nam và thế giới mai sau không còn bị sai lầm nữa. Mong thay !
Phạm Trần Hoàng Việt
Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là một biến cố đau thương nhứt của một đời người. Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, từng nổi tiếng với những bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ - đã đề cập công khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về biến cố lịch sử đặc biệt nêu trên.
Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được (xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.
2) Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?
Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 vừa qua quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?
Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra thảm họa 30.04.1975. Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết (bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãng tình thế.
Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và sắc tộc gốc Do Thái.
- Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.
- Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.
Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ("đi đêm"!) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái.
Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow... với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( - World Jewish Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái ) . Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright.
Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).
Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua Kissinger.
3) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam?
a) Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ
Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại Hoa Kỳ và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng.
Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Irish_ Americans) mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan)
Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem website http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Jewish_ American_ politicians# List). Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:
- trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái (so sánh chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh!).
- trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton...
- trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.
- trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.
- trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.
- trong Ngân Hàng Trung Ương (Fed) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.
Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh...
Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford... (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Jewish_ American_ entertainers). Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.
Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm . Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy ( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông . Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ .
b) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam ?
Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel (Thụy sĩ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này.
Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết (veto) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết (phản bội!) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan... , nhưng luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo (1,3 tỷ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.
Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.
c) Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.
Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman (đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 - 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng CSVN kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975.
Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.
Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ... bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác.
Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy ! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này và mới năm ngoái đây, vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai tử" miền Nam!
Israeli General Moshe Dayan on Patrol with US Marines - South Vietnam 1966
Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thăng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.
Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 - 1999)... Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.
Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.
Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.
Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau:
"Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất". Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:
“ Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”.
Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.
Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.
4) Kết luận
Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam.
Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miến Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến 35 năm sau dư luận vẫn còn bị xí gạt.
Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí dụ: Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam ( chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh .
Về phía Cộng Sản Bắc Việt , ngoại trừ lợi thế sẵn có của đường lối độc tài cuồng tín trong chiến tranh dám vô nhân đạo dùng chiến thuật biển người hy sinh " nướng quân " hàng loạt trên chiến trường ( theo nhận xét của Tướng Westmoreland ! ) , họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng " Đồng Minh tháo chạy " ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đức !) bỏ rơi VNCH . Thực tế , nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì Cộng Sản Bắc Việt sớm thắng trận . Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ ( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng rơi vào tay cộng sản như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.
Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái ( một phần bị ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh " Về miền đất hứa / Exodus " của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ. Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm " Bài học Israel ( Do Thái ) " . Nhưng thực tế chính trị cho thấy tham vọng thủ đoạn của Do Thái sau khi tái lập quốc , nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu của thế lực Do Thái khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam và dẩn tới hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.
Chúng tôi tin rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong đầu tiên tiết lộ những bí ẩn về thảm họa 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai triển tích cực để lịch sử Việt Nam và thế giới mai sau không còn bị sai lầm nữa. Mong thay !
Phạm Trần Hoàng Việt
Hiếm và Tốt ?
Hiếm và Tốt ?
Một ông nhà giàu nọ bị bệnh nan y sắp chết, bác sĩ bệnh viện nói muốn sống thì phải thay nội tạng. Ông ta lập tức bay tới chợ đen nội tạng bên Trung Cộng.
Đầu tiên, ông ta vào tiệm bán tim. Tại đây, tim các loại có đủ cả. Nào là: tim bác sĩ, tim nông dân, tim công nhân, tim luật sư, tim thầy giáo… nhưng mắc nhất trong cửa hàng là một trái tim cộng sản. Ông ta liền hỏi chủ tiệm:
- Sao tim này mắc dữ vậy, bộ nó tốt lắm hả ?
- Cái này hổng phải nó tốt mà là nó hiếm.
- Sao hiếm ?
- Ấy dà, nị hổng thấy sao ? Cả ngàn thằng cộng sản mới có 1 thằng có tim đó chớ. Vậy là nó hiếm rồi. Hàng hiếm đó, mua đi.
Ông nhà giàu mua trái tim cộng sản. Sau đó , qua tiệm bán bao tử. Ở đây cũng có đủ loại: bao tử lính, bao tử dân nghèo, bao tử dân giàu…nhưng mắc nhất là bao tử của quan chức nhà nước cộng sản. Rút kinh nghiệm tiệm bán tim, ông ta hỏi chủ tiệm:
- Cái này nó hiếm nên mắc phải không ?
- Cái này hổng hiếm nhưng mà nó tốt !
- Tốt ra sao ?
- Tốt lắm chứ ! Xi măng, sắt thép, tiền bạc, mỡ thối, mỡ bẩn gì, kể cả sĩ diện và lương tâm bỏ vô nó cũng tiêu hóa hết. Tốt lắm đó, mua đi.
Ông nhà giàu mua cái bao tử đó. Cuối cùng, chỉ còn tiệm bán não. Ở đây cũng có đủ loại não như 2 tiệm trước, nhưng mắc nhất cũng là não của người cộng sản. Lần này, vừa thấy cái não mắc nhất đó, ông ta nói ngay:
- Lấy tôi cái này, cái này mắc vậy chắc vừa hiếm lại vừa tốt ?
- Nị khéo chọn ghê ! Cả triệu thằng công sản mới có 1 thằng có não, mà nó ít khi xài tới lắm nên còn mới ! Còn tốt ở chỗ là mỗi khi nó động não suy nghĩ tức là nó sắp có tiền !
Một ông nhà giàu nọ bị bệnh nan y sắp chết, bác sĩ bệnh viện nói muốn sống thì phải thay nội tạng. Ông ta lập tức bay tới chợ đen nội tạng bên Trung Cộng.
Đầu tiên, ông ta vào tiệm bán tim. Tại đây, tim các loại có đủ cả. Nào là: tim bác sĩ, tim nông dân, tim công nhân, tim luật sư, tim thầy giáo… nhưng mắc nhất trong cửa hàng là một trái tim cộng sản. Ông ta liền hỏi chủ tiệm:
- Sao tim này mắc dữ vậy, bộ nó tốt lắm hả ?
- Cái này hổng phải nó tốt mà là nó hiếm.
- Sao hiếm ?
- Ấy dà, nị hổng thấy sao ? Cả ngàn thằng cộng sản mới có 1 thằng có tim đó chớ. Vậy là nó hiếm rồi. Hàng hiếm đó, mua đi.
Ông nhà giàu mua trái tim cộng sản. Sau đó , qua tiệm bán bao tử. Ở đây cũng có đủ loại: bao tử lính, bao tử dân nghèo, bao tử dân giàu…nhưng mắc nhất là bao tử của quan chức nhà nước cộng sản. Rút kinh nghiệm tiệm bán tim, ông ta hỏi chủ tiệm:
- Cái này nó hiếm nên mắc phải không ?
- Cái này hổng hiếm nhưng mà nó tốt !
- Tốt ra sao ?
- Tốt lắm chứ ! Xi măng, sắt thép, tiền bạc, mỡ thối, mỡ bẩn gì, kể cả sĩ diện và lương tâm bỏ vô nó cũng tiêu hóa hết. Tốt lắm đó, mua đi.
Ông nhà giàu mua cái bao tử đó. Cuối cùng, chỉ còn tiệm bán não. Ở đây cũng có đủ loại não như 2 tiệm trước, nhưng mắc nhất cũng là não của người cộng sản. Lần này, vừa thấy cái não mắc nhất đó, ông ta nói ngay:
- Lấy tôi cái này, cái này mắc vậy chắc vừa hiếm lại vừa tốt ?
- Nị khéo chọn ghê ! Cả triệu thằng công sản mới có 1 thằng có não, mà nó ít khi xài tới lắm nên còn mới ! Còn tốt ở chỗ là mỗi khi nó động não suy nghĩ tức là nó sắp có tiền !
Thì Ra Công An CSVM Là Tin Tặc
Thì Ra Công An CSVM Là Tin Tặc.
Sau khi một loạt những trang web bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam bị tấn công hồi cuối năm 2009 và đầu năm 2010, công ty phần mềm McAfee và công ty Internet Google Inc đã phát hiện ra thủ phạm. Ngày 30/3/2010, trang blog của ông George Kurtz, trưởng bộ phận công nghệ của McAfee, đã viết: “chúng tôi tin là những kẻ tấn công có thể có động cơ chính trị và có thể họ là những người có liên hệ với chính phủ nước CHXHCN Việt Nam”. Đồng thời bài viết của ông Neel Mehta trên blog Google cũng viết “cụ thể là những vụ tấn công này nhằm tìm cách dập tắt những ý kiến phản đối dự án khai thác bauxite, một vấn đề quan trọng và gây bức xúc ở Việt Nam”.
Ngay sau đó, ngày 3/4/010, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga trả lời câu hỏi phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước thông tin trên diễn đàn An ninh mạng Google (Google Online Security Blog) và McAfee về vấn đề này, đã bác bỏ những cáo buộc từ phía Google và McAfee. Bà Nguyễn Phương Nga cho rằng: “Đây là những ý kiến không có cơ sở.”
.
Ấy, vậy mà chính Công An của nước CHXHCN Việt Nam lại công khai đứng ra cung cấp cái “cơ sở” hùng hồn ấy!!! Thế mới lạ chứ.
Ngày 5/5/2010 vừa qua, tại “Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010”, dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam, trước sự tham gia và chứng kiến của hàng trăm nhà báo, tổng biên tập, phó tổng biên tập, đại diện cho “178 báo và 528 tạp chí, 67 đài phát thanh - truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo in và hàng ngàn trang tin điện tử, trên 17.000 nhà báo được cấp thẻ”, trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: trong mấy tháng qua, bộ phận kĩ thuật của “ta” đã “phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.
Hay quá! Thế là Công An CSVN đã vô tình vả vào mồm Bộ Ngoại giao Việt Nam một phát đẹp mắt.
Thế mới biết cái văn hóa đạo đức của những người cầm quyền của nước CHXHCN Việt Nam. Khi cần chối tội, thì họ chối phăng, chối biến, cho rằng mọi lời cáo buộc có bằng chứng khoa học đều chỉ “là những ý kiến không có cơ sở.” Đến khi cần khoe thành tích, thì họ lại khoe tuốt luốt tất cả những âm mưu và hành động của họ mà họ vừa gân cổ chối biến.
Cái dạng văn hóa đạo đức này có lẽ chỉ có đám xã hội đen mới có thể hiểu được. Mà đúng là xã hội đen, vì Công An tự hào chính mình là tin tặc!
Sau khi một loạt những trang web bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam bị tấn công hồi cuối năm 2009 và đầu năm 2010, công ty phần mềm McAfee và công ty Internet Google Inc đã phát hiện ra thủ phạm. Ngày 30/3/2010, trang blog của ông George Kurtz, trưởng bộ phận công nghệ của McAfee, đã viết: “chúng tôi tin là những kẻ tấn công có thể có động cơ chính trị và có thể họ là những người có liên hệ với chính phủ nước CHXHCN Việt Nam”. Đồng thời bài viết của ông Neel Mehta trên blog Google cũng viết “cụ thể là những vụ tấn công này nhằm tìm cách dập tắt những ý kiến phản đối dự án khai thác bauxite, một vấn đề quan trọng và gây bức xúc ở Việt Nam”.
Ngay sau đó, ngày 3/4/010, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga trả lời câu hỏi phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước thông tin trên diễn đàn An ninh mạng Google (Google Online Security Blog) và McAfee về vấn đề này, đã bác bỏ những cáo buộc từ phía Google và McAfee. Bà Nguyễn Phương Nga cho rằng: “Đây là những ý kiến không có cơ sở.”
.
Ấy, vậy mà chính Công An của nước CHXHCN Việt Nam lại công khai đứng ra cung cấp cái “cơ sở” hùng hồn ấy!!! Thế mới lạ chứ.
Ngày 5/5/2010 vừa qua, tại “Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010”, dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam, trước sự tham gia và chứng kiến của hàng trăm nhà báo, tổng biên tập, phó tổng biên tập, đại diện cho “178 báo và 528 tạp chí, 67 đài phát thanh - truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo in và hàng ngàn trang tin điện tử, trên 17.000 nhà báo được cấp thẻ”, trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: trong mấy tháng qua, bộ phận kĩ thuật của “ta” đã “phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.
Hay quá! Thế là Công An CSVN đã vô tình vả vào mồm Bộ Ngoại giao Việt Nam một phát đẹp mắt.
Thế mới biết cái văn hóa đạo đức của những người cầm quyền của nước CHXHCN Việt Nam. Khi cần chối tội, thì họ chối phăng, chối biến, cho rằng mọi lời cáo buộc có bằng chứng khoa học đều chỉ “là những ý kiến không có cơ sở.” Đến khi cần khoe thành tích, thì họ lại khoe tuốt luốt tất cả những âm mưu và hành động của họ mà họ vừa gân cổ chối biến.
Cái dạng văn hóa đạo đức này có lẽ chỉ có đám xã hội đen mới có thể hiểu được. Mà đúng là xã hội đen, vì Công An tự hào chính mình là tin tặc!
THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT
THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT.
Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam trân trọng thông báo:
Sau khi tiếp nhận một số hồ sơ khiếu nại của thân nhân những nạn nhân đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam sát hại và bắt đi mất tích vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, ủy ban chúng tôi đã chuyển ngữ những hồ sơ này ra tiếng Anh, Pháp, Đức và đã chuyển cho một số tổ hợp luật sư quốc tế về nhân quyền tham khảo, nay ủy ban chúng tôi trân trọng thông báo đến đồng bào quốc nội và quốc ngoại, đặc biệt là thân nhân của những nạn nhân trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế tin mừng sau đây:
Một tổ hợp Luật Sư Quốc Tế đã nhận lời tiến hành thủ tục truy tố Đảng Cộng Sản Việt Nam về trọng tội đã tàn sát 5327 thường dân vô tội, và bắt đi mất tích 1200 người tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
Ủy Ban sẽ đòi hỏi công lý và công bằng cho nạn nhân trên ba phương diện:
1- Áp dụng các biện pháp chế tài thích đáng cho từng cá nhân đã gây tội ác
2- Đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải bồi thường cho thân nhân các nạn nhân.
3- Phổ biến rộng rãi trên tòan cầu nội dung bản án về tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc việt Nam .
Ai là thân nhân những nạn nhân muốn đem công bằng và công lý trả lại cho người đã khuất và đòi hỏi kẻ gây ác phải bồi thường thiệt hại, xin liên lạc ngay với Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Những công dân Việt Nam nào còn thiết tha với tiền đồ dân tộc, vận mạng quốc gia, hãy tiếp tay với Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Cộng Sản phát động một phong trào mạnh mẽ sâu rộng truy tố tộc ác cộng sản Việt Nam, đặc biệt là khuyến khích thân nhân nạn nhân Mậu Thân 1868 tại quốc nội và quốc ngoại, hãy mạnh dạn đứng lên truy tố tội ác đảng cộng sản bằng những lời khai, lời tường thuật trung thực, chính xác, về các hành động man rợ của bọn chúng đã sát hại thân nhân mình.
Đương nhiên mọi danh tánh của các nhân chứng sẽ được bảo mật tuyệt đối.
Ủy Ban chúng tôi yêu cầu đồng bào gởi hồ sơ chi tiết rõ ràng cụ thể , có nhân chứng càng tốt, liên quan đến trường hợp thân nhân mình bị Việt Cộng sát hại hoặc bị bắt đi mất tích trong Mậu Thân 1968 tại Huế về Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam càng sớm càng tốt để chúng tôi nhanh chóng đúc kết hồ sơ chuyển qua tổ hợp Luật Sư Quốc Tế lập thủ tục truy tố Đảng Cộng Sản Việt Nam và đồng bọn.
Trân Trọng thông báo.
Hoa Kỳ ngày 15 tháng 5 năm 2010
Đại diện Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam trân trọng thông báo:
Sau khi tiếp nhận một số hồ sơ khiếu nại của thân nhân những nạn nhân đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam sát hại và bắt đi mất tích vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, ủy ban chúng tôi đã chuyển ngữ những hồ sơ này ra tiếng Anh, Pháp, Đức và đã chuyển cho một số tổ hợp luật sư quốc tế về nhân quyền tham khảo, nay ủy ban chúng tôi trân trọng thông báo đến đồng bào quốc nội và quốc ngoại, đặc biệt là thân nhân của những nạn nhân trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế tin mừng sau đây:
Một tổ hợp Luật Sư Quốc Tế đã nhận lời tiến hành thủ tục truy tố Đảng Cộng Sản Việt Nam về trọng tội đã tàn sát 5327 thường dân vô tội, và bắt đi mất tích 1200 người tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
Ủy Ban sẽ đòi hỏi công lý và công bằng cho nạn nhân trên ba phương diện:
1- Áp dụng các biện pháp chế tài thích đáng cho từng cá nhân đã gây tội ác
2- Đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải bồi thường cho thân nhân các nạn nhân.
3- Phổ biến rộng rãi trên tòan cầu nội dung bản án về tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc việt Nam .
Ai là thân nhân những nạn nhân muốn đem công bằng và công lý trả lại cho người đã khuất và đòi hỏi kẻ gây ác phải bồi thường thiệt hại, xin liên lạc ngay với Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Những công dân Việt Nam nào còn thiết tha với tiền đồ dân tộc, vận mạng quốc gia, hãy tiếp tay với Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Cộng Sản phát động một phong trào mạnh mẽ sâu rộng truy tố tộc ác cộng sản Việt Nam, đặc biệt là khuyến khích thân nhân nạn nhân Mậu Thân 1868 tại quốc nội và quốc ngoại, hãy mạnh dạn đứng lên truy tố tội ác đảng cộng sản bằng những lời khai, lời tường thuật trung thực, chính xác, về các hành động man rợ của bọn chúng đã sát hại thân nhân mình.
Đương nhiên mọi danh tánh của các nhân chứng sẽ được bảo mật tuyệt đối.
Ủy Ban chúng tôi yêu cầu đồng bào gởi hồ sơ chi tiết rõ ràng cụ thể , có nhân chứng càng tốt, liên quan đến trường hợp thân nhân mình bị Việt Cộng sát hại hoặc bị bắt đi mất tích trong Mậu Thân 1968 tại Huế về Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam càng sớm càng tốt để chúng tôi nhanh chóng đúc kết hồ sơ chuyển qua tổ hợp Luật Sư Quốc Tế lập thủ tục truy tố Đảng Cộng Sản Việt Nam và đồng bọn.
Trân Trọng thông báo.
Hoa Kỳ ngày 15 tháng 5 năm 2010
Đại diện Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bài Thơ “Lạ”
Bài Thơ “Lạ”.
Ðất Nước Tôi Bây Giờ Rất Lạ
Từ Bao Giờ Thói Hèn Hạ Thành Quen
Tàu nước Lạ đi vào vùng “nhạy cảm”
Tàu nước tôi bỏ bãi cá than trời
Ngư dân tôi cúi đầu nhẫn nhục
Hải quân Lạ ngang dọc khắp biển khơi
Công ty Lạ lên Tây Nguyên đào quặng
Dân xứ Lạ đến đập núi phá rừng
Cao nguyên ơi đâu rồi tiếng trống
Tiếng sáo buồn trôi tiếng đàn t’rưng
Ðất nước tôi bây giờ rất Lạ
Phim Lạ lên ngôi, tiếng Lạ đổi đời
Hàng xứ Lạ khắp hang cùng ngõ hẻm
Em gái theo chồng Lạ kiếp đời trôi
Ôi lạ thật cái gì cũng Lạ
Ðâu mất rồi con cháu Rồng Tiên
Trải bao đời lưu danh Lạc Việt
Mà bây giờ thói hèn hạ thành quen...
Tac gia tu trong nuoc.
Lan Cao
Ðất Nước Tôi Bây Giờ Rất Lạ
Từ Bao Giờ Thói Hèn Hạ Thành Quen
Tàu nước Lạ đi vào vùng “nhạy cảm”
Tàu nước tôi bỏ bãi cá than trời
Ngư dân tôi cúi đầu nhẫn nhục
Hải quân Lạ ngang dọc khắp biển khơi
Công ty Lạ lên Tây Nguyên đào quặng
Dân xứ Lạ đến đập núi phá rừng
Cao nguyên ơi đâu rồi tiếng trống
Tiếng sáo buồn trôi tiếng đàn t’rưng
Ðất nước tôi bây giờ rất Lạ
Phim Lạ lên ngôi, tiếng Lạ đổi đời
Hàng xứ Lạ khắp hang cùng ngõ hẻm
Em gái theo chồng Lạ kiếp đời trôi
Ôi lạ thật cái gì cũng Lạ
Ðâu mất rồi con cháu Rồng Tiên
Trải bao đời lưu danh Lạc Việt
Mà bây giờ thói hèn hạ thành quen...
Tac gia tu trong nuoc.
Lan Cao
Halden, Nhà Tù Nhân Đạo Nhất Thế Giới
Halden, Nhà Tù Nhân Đạo Nhất Thế Giới.
Tại nhà tù Halden, nước Na Uy, tù nhân chỉ bị mất tự do thôi. Ngoài ra, họ được chiều chuộng có đủ thứ: đường mòn chạy bộ để tập thể dục, xem TV với màn ảnh mỏng, phòng giam có nước hoa thơm mùi chanh cam.
KHI TIẾNG KÈN TRUMPET ĐƯỢC TRỔI LÊN, các ngọn nến được thắp sáng, và những dĩa cá hồi được dọn lên, Vua Harald đệ Ngũ của nước Na Uy bước vào phòng, lập tức 200 người khách đứng dậy để chào đón nhà vua. Kế đến một ban hợp xướng gồm khoảng 30 người vừa đàn ông lẫn đàn bà trong bộ đồng phục của cảnh sát tiến vào để cùng đồng ca bản nhạc: “We Are the World”. Đó không phải là buổi dạ tiệc tại Cung Điện Hoàng Gia ở Oslo đâu, trái lại, đó là ngày khánh thành nhà tù Halden Fengsel, một nhà tù mới nhất của nước Na Uy.
Tốn kém 1.3 tỉ Kroner tiền Na Uy tương đương với 252 triệu đô la Mỹ, và phải mất mười năm mới xây xong nhà tù Halden. Trải dài trên một diện tích 75 acres, tức khoảng 30 hectares, nằm xoai xoải trên sườn đồi trong khu rừng thuộc vùng đông nam nước Na Uy . Nhà tù tối tân khoe trương sự trang bị tuyệt vời của một nhà tù nhân đạo có một không hai trên trái đất: phòng nghe nhạc, đường mòn chạy bộ, và một nhà khách sang trọng với hai phòng ngủ để tù nhân đón tiếp thân nhân đến nghỉ qua đêm. Không giống như những nhà tù hôi hám của Mỹ, chỉ toàn mùi mồ hôi nồng nặc của tù nhân, nhà tù Halden xịt dầu thơm trong không khí, có mùi cam tươi, do tù nhân chế tạo trong “phòng thí nghiệm nhà bếp” của họ. Tất cả các tù nhân đều được học lớp nấu ăn. Thống đốc nhà tù Halden là ông Are Hoidal giải thích rằng: “Trong hệ thống nhà lao của Na Uy, chúng tôi chú trọng đến sự tôn trọng nhân quyền và nhân phẩm của người tù nhân. Vì thế, chúng tôi không thấy những điều quí vị coi như xa hoa là chuyện không bình thường.”.
Nhà tù Halden là nhà tù lớn thứ hai của Na Uy, vừa được khánh thành ngày 8 tháng Tư vừa qua, có sức chứa 252 tù nhân. Nhà tù này thể hiện triết lý ghi trong bộ hình luật của nước này: “sự hành hạ tù nhân không đem lại kết quả, chỉ có cách đối sử nhân đạo với tù nhân mới hoạ chăng có thể giúp cho họ hội nhập trở lại với xã hội được.” . Nhà tù Halden giam giữ những tù nhân can tội buôn bán ma tuý, giết người, hiếp dâm, và nhiều trọng tội khác. Ông Thống Đốc Hoidal kể lại rằng: “Khi họ mới đến nhà tù, đa số đều có dáng tàn tệ, mệt mỏi. Chúng tôi muốn dạy dỗ, bồi dưỡng cho họ, để khi họ ra khỏi tù, sẽ trở thành những con người lương thiện, đàng hoàng hơn.”. Mỗi quốc gia theo dõi con đường hoàn lương của can phạm theo cách riêng của từng nước. Nhưng dù dựa trên tiêu chuẩn nào đi nữa, mô hình cải tạo tù nhân của Na Uy rõ rệt là mô hình siêu đẳng không có nước nào đạt kết quả tốt như của Na Uy. Hai năm sau ngày trả tự do, chỉ có khoảng 20% tù nhân Na Uy tái phạm trở lại con đường tội lỗi, để rồi lại vào tù. Tại Hoa Kỳ và Anh Quốc, có tới 60% và 50% tù nhân quanh trở lại nhà lao. Dĩ nhiên, tỉ lệ số người phạm tội của nước này rất nhỏ, khiến cho họ có ưu thế rất lớn để thực hiện đường lối nhân đạo. Ở Na Uy, trong số 100,000 dân chỉ có 69 người phạm tội. Trong lúc đó ở Hoa Kỳ cứ 100,000 dân có tới 753 kẻ tội phạm. Đây là tỉ lệ cao nhất thế giới.
Vẽ kiểu nhà tù giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nỗ lực cải hoá tù nhân mà nhà tù Halden muốn thực hiện. Một kiến trúc sư trong nhóm các nhà hoạ kiểu, ông Hans Henrik Hoilund nói: “Chúng tôi phải cố gắng xây nhà tù sao cho nó giống như những căn nhà ở ngoài đời, càng giống nhiều càng tốt. “Để tránh cái vẻ biệt lập, khác với đời sống thường, tường bên ngoài của nhà tù phải bằng gạch,cổng sắt, trang trí hoa lá cành, trông như được mọc tự nhiên giữa khu rừng.”. Để giữ an ninh, bên vòng ngoài nhà tù xây tường bê tông cao 6 mét, bọc theo chu vi nhà tù. Trên bức tường trồng cây che kín để không ai biết đó là tường rào giữ an ninh. Thậm chí cây cảnh cũng được vén khéo, cắt tròn đầu trông có vẻ hiền lành, không có gì là thù oán cả.
Phòng giam có thể đem so sánh không thua gì phòng ký túc xá của sinh viên đại học, có cả TV màn ảnh mỏng, và một tủ lạnh nhỏ. Nhà hoạ kiểu cố tình chọn kiểu cửa sổ theo chiều dọc, để lấy ánh sáng nhiều vào trong phòng. Không có song sắt trong các phòng giam, cứ 10 đến 12 phòng giam, các tù nhân lại có chung một phòng ngồi chơi, và một nhà bếp. Trong đó, quầy bếp làm bằng i-nốc-xi-đáp, loại sắt sáng loáng như trong bệnh viện, ghế sô pha loại gấp lại được, và bàn ngồi uống cà phê bằng gỗ xoan. Trông cứ như là phòng trưng bầy của của hàng Ikea, chuyên bán đồ trang hoàng nội thất.
Cái ưu điểm đáng kể nhất của nhà tù Halden phải nói là quan hệ thân hữu giữa tù nhân và người cai tù. Lính gác tù tuyệt đối không mang súng – vì mang súng đem lại sự ngăn cách, thiếu thân thiện về khía cạnh giao tiếp xã hội. Cai tù thường ngồi ăn chung với tù nhân, và tham gia các cuộc chơi thể thao cùng với tù nhân. Kiến trúc sư Per Hojgaa Nielsen gỉai thích: “Nhiều tù nhân xuất thân trong những gia đình đổ vỡ, không nguyên vẹn. Chúng tôi muốn tạo cho họ biết ý nghĩa của một gia đinh đầm ấm.”. Hơn phân nửa cai tù là phụ nữ. Ông Thống Đốc Hoidal cho rằng phụ nữ làm lính coi tù giúp cho không khí nhà tù bớt cái vẻ hung hãn - thỉnh thoảng tù nhân còn được hỏi ý kiến nên làm thêm những gì để cải tiến nhà tù tốt hơn nữa.
Có rất nhiều cách thích thú để cải hoá cuộc đời một con người.Ông Charlott Renee Sandvik Clasen, một thầy giáo dạy âm nhạc trong nhà tù tâm sự: “Không một ai làm việc ở đây bị cưỡng bách làm việc trong nhà tù. Chúng tôi tự ý xin chọn làm việc ở đây.”. Thầy Clasen cũng là một ca sĩ trong ban hợp xướng của các cai tù tại Halden. Thầy gọi các tù nhân là “những chú học trò của thầy.”. Thầy tâm sự: “Mục đích của chúng tôi là cung ứng cho các tù nhân một cuộc sống có ý nghĩa bên trong những bức tường giam hãm họ.”. Chính cái bầu không khí thân tình, đầm ấm sẽ tạo nên những ảnh hưởng lâu dài trong tâm khảm của tù nhân, chứ không phải cái TV đắt tiền.
Bút ký của William Lee Adams trên Time magazine ngày 10/5/10
Nguyễn Minh Tâm
dịch
Tại nhà tù Halden, nước Na Uy, tù nhân chỉ bị mất tự do thôi. Ngoài ra, họ được chiều chuộng có đủ thứ: đường mòn chạy bộ để tập thể dục, xem TV với màn ảnh mỏng, phòng giam có nước hoa thơm mùi chanh cam.
KHI TIẾNG KÈN TRUMPET ĐƯỢC TRỔI LÊN, các ngọn nến được thắp sáng, và những dĩa cá hồi được dọn lên, Vua Harald đệ Ngũ của nước Na Uy bước vào phòng, lập tức 200 người khách đứng dậy để chào đón nhà vua. Kế đến một ban hợp xướng gồm khoảng 30 người vừa đàn ông lẫn đàn bà trong bộ đồng phục của cảnh sát tiến vào để cùng đồng ca bản nhạc: “We Are the World”. Đó không phải là buổi dạ tiệc tại Cung Điện Hoàng Gia ở Oslo đâu, trái lại, đó là ngày khánh thành nhà tù Halden Fengsel, một nhà tù mới nhất của nước Na Uy.
Tốn kém 1.3 tỉ Kroner tiền Na Uy tương đương với 252 triệu đô la Mỹ, và phải mất mười năm mới xây xong nhà tù Halden. Trải dài trên một diện tích 75 acres, tức khoảng 30 hectares, nằm xoai xoải trên sườn đồi trong khu rừng thuộc vùng đông nam nước Na Uy . Nhà tù tối tân khoe trương sự trang bị tuyệt vời của một nhà tù nhân đạo có một không hai trên trái đất: phòng nghe nhạc, đường mòn chạy bộ, và một nhà khách sang trọng với hai phòng ngủ để tù nhân đón tiếp thân nhân đến nghỉ qua đêm. Không giống như những nhà tù hôi hám của Mỹ, chỉ toàn mùi mồ hôi nồng nặc của tù nhân, nhà tù Halden xịt dầu thơm trong không khí, có mùi cam tươi, do tù nhân chế tạo trong “phòng thí nghiệm nhà bếp” của họ. Tất cả các tù nhân đều được học lớp nấu ăn. Thống đốc nhà tù Halden là ông Are Hoidal giải thích rằng: “Trong hệ thống nhà lao của Na Uy, chúng tôi chú trọng đến sự tôn trọng nhân quyền và nhân phẩm của người tù nhân. Vì thế, chúng tôi không thấy những điều quí vị coi như xa hoa là chuyện không bình thường.”.
Nhà tù Halden là nhà tù lớn thứ hai của Na Uy, vừa được khánh thành ngày 8 tháng Tư vừa qua, có sức chứa 252 tù nhân. Nhà tù này thể hiện triết lý ghi trong bộ hình luật của nước này: “sự hành hạ tù nhân không đem lại kết quả, chỉ có cách đối sử nhân đạo với tù nhân mới hoạ chăng có thể giúp cho họ hội nhập trở lại với xã hội được.” . Nhà tù Halden giam giữ những tù nhân can tội buôn bán ma tuý, giết người, hiếp dâm, và nhiều trọng tội khác. Ông Thống Đốc Hoidal kể lại rằng: “Khi họ mới đến nhà tù, đa số đều có dáng tàn tệ, mệt mỏi. Chúng tôi muốn dạy dỗ, bồi dưỡng cho họ, để khi họ ra khỏi tù, sẽ trở thành những con người lương thiện, đàng hoàng hơn.”. Mỗi quốc gia theo dõi con đường hoàn lương của can phạm theo cách riêng của từng nước. Nhưng dù dựa trên tiêu chuẩn nào đi nữa, mô hình cải tạo tù nhân của Na Uy rõ rệt là mô hình siêu đẳng không có nước nào đạt kết quả tốt như của Na Uy. Hai năm sau ngày trả tự do, chỉ có khoảng 20% tù nhân Na Uy tái phạm trở lại con đường tội lỗi, để rồi lại vào tù. Tại Hoa Kỳ và Anh Quốc, có tới 60% và 50% tù nhân quanh trở lại nhà lao. Dĩ nhiên, tỉ lệ số người phạm tội của nước này rất nhỏ, khiến cho họ có ưu thế rất lớn để thực hiện đường lối nhân đạo. Ở Na Uy, trong số 100,000 dân chỉ có 69 người phạm tội. Trong lúc đó ở Hoa Kỳ cứ 100,000 dân có tới 753 kẻ tội phạm. Đây là tỉ lệ cao nhất thế giới.
Vẽ kiểu nhà tù giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nỗ lực cải hoá tù nhân mà nhà tù Halden muốn thực hiện. Một kiến trúc sư trong nhóm các nhà hoạ kiểu, ông Hans Henrik Hoilund nói: “Chúng tôi phải cố gắng xây nhà tù sao cho nó giống như những căn nhà ở ngoài đời, càng giống nhiều càng tốt. “Để tránh cái vẻ biệt lập, khác với đời sống thường, tường bên ngoài của nhà tù phải bằng gạch,cổng sắt, trang trí hoa lá cành, trông như được mọc tự nhiên giữa khu rừng.”. Để giữ an ninh, bên vòng ngoài nhà tù xây tường bê tông cao 6 mét, bọc theo chu vi nhà tù. Trên bức tường trồng cây che kín để không ai biết đó là tường rào giữ an ninh. Thậm chí cây cảnh cũng được vén khéo, cắt tròn đầu trông có vẻ hiền lành, không có gì là thù oán cả.
Phòng giam có thể đem so sánh không thua gì phòng ký túc xá của sinh viên đại học, có cả TV màn ảnh mỏng, và một tủ lạnh nhỏ. Nhà hoạ kiểu cố tình chọn kiểu cửa sổ theo chiều dọc, để lấy ánh sáng nhiều vào trong phòng. Không có song sắt trong các phòng giam, cứ 10 đến 12 phòng giam, các tù nhân lại có chung một phòng ngồi chơi, và một nhà bếp. Trong đó, quầy bếp làm bằng i-nốc-xi-đáp, loại sắt sáng loáng như trong bệnh viện, ghế sô pha loại gấp lại được, và bàn ngồi uống cà phê bằng gỗ xoan. Trông cứ như là phòng trưng bầy của của hàng Ikea, chuyên bán đồ trang hoàng nội thất.
Cái ưu điểm đáng kể nhất của nhà tù Halden phải nói là quan hệ thân hữu giữa tù nhân và người cai tù. Lính gác tù tuyệt đối không mang súng – vì mang súng đem lại sự ngăn cách, thiếu thân thiện về khía cạnh giao tiếp xã hội. Cai tù thường ngồi ăn chung với tù nhân, và tham gia các cuộc chơi thể thao cùng với tù nhân. Kiến trúc sư Per Hojgaa Nielsen gỉai thích: “Nhiều tù nhân xuất thân trong những gia đình đổ vỡ, không nguyên vẹn. Chúng tôi muốn tạo cho họ biết ý nghĩa của một gia đinh đầm ấm.”. Hơn phân nửa cai tù là phụ nữ. Ông Thống Đốc Hoidal cho rằng phụ nữ làm lính coi tù giúp cho không khí nhà tù bớt cái vẻ hung hãn - thỉnh thoảng tù nhân còn được hỏi ý kiến nên làm thêm những gì để cải tiến nhà tù tốt hơn nữa.
Có rất nhiều cách thích thú để cải hoá cuộc đời một con người.Ông Charlott Renee Sandvik Clasen, một thầy giáo dạy âm nhạc trong nhà tù tâm sự: “Không một ai làm việc ở đây bị cưỡng bách làm việc trong nhà tù. Chúng tôi tự ý xin chọn làm việc ở đây.”. Thầy Clasen cũng là một ca sĩ trong ban hợp xướng của các cai tù tại Halden. Thầy gọi các tù nhân là “những chú học trò của thầy.”. Thầy tâm sự: “Mục đích của chúng tôi là cung ứng cho các tù nhân một cuộc sống có ý nghĩa bên trong những bức tường giam hãm họ.”. Chính cái bầu không khí thân tình, đầm ấm sẽ tạo nên những ảnh hưởng lâu dài trong tâm khảm của tù nhân, chứ không phải cái TV đắt tiền.
Bút ký của William Lee Adams trên Time magazine ngày 10/5/10
Nguyễn Minh Tâm
dịch
Abonner på:
Innlegg (Atom)
