tirsdag 28. april 2009

Bài Thơ Trên Tuyết

Bài Thơ Trên Tuyết

Bài thơ trên tuyết hôm qua
Sáng nay tìm đọc toàn là cỏ khô
Lời thơ tan biến hư vô
Bình minh lố dạng mặt hồ lặng trong
Vạn sự khởi động tại Tâm
Nếu Tâm thanh tịnh thì lòng thảnh thơi
Tiếc chi chỉ một vần thơ
Tan trong tuyết lạnh bây giờ luyến lưu
Vô thường là chữ bắt cầu
Đời còn ngụp lặn bên bờ tử sinh
Một mai ta dứt nghiệp trần
Như cành hoa tuyết tan dần hư không !

Trần Bửu Hạnh

onsdag 15. april 2009

Trước Biến Cố Bauxite

Trước Biến Cố Bauxite.

Cướp đất của dân, rồi dâng đất tổ tiên,
Liệm xác Việt Nam dưới Mặt Trời Hồng.

Mấy tháng nay việc nhà cầm quyền Việt Nam cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã dấy lên một làn sóng phản đối trên toàn quốc từ những đảng viên Cộng Sản lão thành, chuyên gia, trí thức tới dân chúng.

Nhân mùa tưởng niệm 30-4, chúng tôi xin ghi lại một số sự việc đang diễn ra về biến cố này để cùng nhau nhìn vào sự nguy vong của đất nước trước những việc làm của đảng Cộng Sản Việt Nam.

1. Những tiếng kêu:

Trước hết là tướng Võ Nguyên Giáp, qua thư gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngày 5-1-09, tướng Giáp cho biết là năm 1980, đã có chương trình khai thác bauxite trong kế hoạch hợp tác với khối COMECON, nhưng đã phải bỏ vì sau khi khảo sát, các chuyên gia Liên Sô và khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài, nghiêm trọng không thể khắc phục, chẳng những đối với dân cư tại chỗ mà còn cả với dân cư vùng đồng bằng miền Nam Trung Bộ. Ngoài việc tác hại sinh thái, tướng Giáp còn nói đến vấn đề an ninh quốc phòng và đã nêu lên một sự kiện là trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường và dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại mỗi dự án. Trong thư, tướng Giáp nhắc nhở: “Việc xác định chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng”, vì thế ông đề nghị: “Cho dừng triển khai các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên”.

Sau tướng Giáp là tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu chính ủy quân khu 4, cựu Đại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ 1974 tới 1989, gửi thư ngỏ cho Bộ Chính Trị, Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng, phản đối việc cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên, trong thư ngoài vấn đề tàn phá môi trường, tướng Vĩnh nói về mối họa Trung Quốc:

“Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á, đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn.

Nay lại để Trung Quốc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta”.

Sau khi dẫn chứng về việc Trung Quốc ngang ngược thiết lập huyện Tam Sa với ý thôn tính cả Hoàng Sa và Trường Sa, tướng Vĩnh nói với lãnh đạo đảng Cộng Sản là không thể cứ tiếp tục để cho Trung Quốc áp đặt, ép chúng ta làm theo ý họ mà phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ quốc.

Ngoài hai vị tướng, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, trong bức thư dài gửi Thủ Tướng Chính Phủ, đã nói về tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc dọc theo lịch sử Việt Nam. Và dưới thời Cộng Sản Việt Nam từ 1954 tới nay ông Trọng đã ghi lại những miền đất Trung Quốc lấn chiếm như sau:

- Thác Bản Giốc: Năm 1976, hàng ngàn quân Trung Quốc đã tràn qua biên giới ngăn thành hàng rào che chắn cho thợ đổ bê tông cột mốc, chia cắt thác Bản Giốc làm đôi, chiếm nửa thác của ta, trước kia thác cách biên giới hơn 12 km, còn bây giờ phân giới, phần thác đã nằm phía bên Trung Quốc hơn phân nửa.

- Ải Nam Quan: Năm 1973, bộ đội Việt Nam đứng gác ở Mục Nam Quan, còn nay thì Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở trên đất Tàu, và đường biên giới đã lùi sâu vào đất ta đến năm, sáu trăm mét.

- Bản Sẻo Lủng: Năm 1992, quân Trung Quốc kéo đến bản Sẻo Lủng, mỏm cực bắc huyện Đồng Văn, Hà Giang, đốt phá nhà cửa dân ta, rồi tuyên bố đất Sẻo Lủng là lãnh thổ Trung Quốc. Ngoài mấy vùng có tên, Tàu đã chiếm nhiều cao điểm và những núi có giá trị chiến lược dọc biên giới.

- Còn đảo thì Tàu chiếm Hoàng Sa tháng 1-1974, và nhiều đảo ở Trường Sa năm 1988.

- Đến nay thì Trung Quốc đem công nhân vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên.

Về Bauxite, ông Trọng nói đến sự hiểm độc của Trung Quốc, khi cần tránh thảm họa môi trường do bauxite gây ra đã thực hiện chính sách xuất khẩu thảm họa môi trường để nhập khẩu nhôm thô và alumina từ những nước khác. Vì thế, cả lục địa Châu Phi đã trở thành bãi khai mỏ của Trung Hoa. Khi thấy trữ lượng bô xit ở Guinea không lớn, lại xa quá, nên Tàu đã chiếu cố Tây Nguyên Việt Nam. Và Tây Nguyên sẽ thành bãi khai mỏ bô-xít của Trung Hoa, thành cái chợ Trung Hoa.

Trong thư có đoạn: “Những diễn biến của những năm tháng lịch sử vừa qua lại cho chúng tôi thấy những người có trách nhiệm quản lý đất nước của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không những đã không giữ được trọn vẹn dải đất Viêt nam gấm vóc và thiêng liêng mà cả đến việc khai thác tài nguyên đất nước dường như cũng không vì lợi ích của đất nước Việt Nam, không vì nhân dân Việt Nam… Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Nhưng khai thác bô-xít Tây Nguyên cũng đặt ra những vấn đề lớn về độc lập dân tộc, về mục đích và hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nước, về môi trường sống và không gian văn hóa của đất nước”.

Một tiếng kêu tiêu biểu khác thuộc giới chuyên gia là tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công ty Năng Lượng Sông Hồng, một thành viên của Tập Đoàn Than và Khoáng Sản (Tập Đoàn đã chọn nhà thầu Trung Quốc). Có lẽ tiến sĩ Sơn là người lên tiếng sớm nhất và nhiều nhất về dự án Bauxite ngay từ khi nhà cầm quyền Việt Nam phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành bauxite nhôm và xác định lãnh vực này như một thế mạnh để phát triển năm 2007. Từ đó đến nay, với nhiều bài phân tích và trong những cuộc hội thảo về việc khai thác bauxite, ông đã đưa ra những luận chứng phản bác xác đáng về tính không khả thi của các dự án. Xin tóm tắt:

- Về chiến lược: Dự án khai thác bauxite là một sai lầm chiến lược, chứa đựng nhiều rủi ro không thể lường hết. Nhôm không phải là kim loại quý và chưa có quốc gia nào coi bauxite là khoáng sản chiến lược để dốc sức khai thác như Việt Nam.

- Về môi trường, sinh thái: Dự án sẽ làm cạn kiệt nguồn nước hiện đang còn thiếu để phát triển các loại cây công nghiệp. Sinh thái bị thay đổi, ảnh hương xấu đến miền Trung Nam Bộ, Campuchia, hạn hán sẽ kéo dài, lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn.

- Về kỹ thuật: Dự án phải lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ, một loại chất thải cực kỳ độc hại, phải chôn lấp trên cao nguyên thành những núi bom bẩn. Tây Nguyên là thượng nguồn nhiều dòng sông lớn. Vì thế, nếu xẩy ra thiên tai lũ quét thì bom này sẽ gây nguy hại cho dân Tây Nguyên và cả dân miền Nam và Đông Nam Bộ.

- Về kinh tế: Dự án chiếm dụng quá nhiều đất, nhưng bauxite không có hiệu quả và không thể giúp phát triển bằng các dự án trồng các loại cây công nghệ như cao su, cà phê, chè và điều…

- Về an ninh: Việc chọn lựa nhà thầu Trung Quốc vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng.

Từ những luận chứng trên, tiến sĩ Sơn đã đề ra kiến nghị 4 điểm:

Thứ nhất, đình chỉ các dự án khai thác và chế biến bô-xit qui mô lớn ở Tây Nguyên.

Thứ nhì, chỉ nên triển khai 1 dự án thử nghiệm.

Thứ ba, cần quan tâm và ưu tiên nước ngọt và có chính sách cho việc phát triển cây công nghiệp, đúng với tiềm năng của Tây Nguyên

và thứ tư, thành lập “Ủy Ban Quốc Gia Về Phát Triển Kinh Tế Tây Nguyên” trực thuộc chính phủ hoặc Quốc Hội để chỉ đạo toàn diện việc phát triển kinh tế, xã hội Tây Nguyên.

2. Sự im lặng:

Dân lo sợ dự án khai thác Bauxite và những tiếng kêu trên đây đã kết tinh được mối lo đó. Nhưng Nguyễn Tấn Dũng đã họp báo xác định khai thác Bauxite là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, và ra lệnh cấm báo chí không được loan tin về Bauxite.

Rồi ngày 17-3, Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải đã ra thông báo yêu cầu Tập Đoàn Than và Khoáng Sản tiếp tục chỉ đạo chủ đầu tư triển khai các dự án bauxite nhôm ở Bảo Lâm, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đắc Nông.

Đó là trên mặt tin tức của nhà nước, còn trong thực tế qua tin tức và hình ảnh của dân chúng địa phương thì việc san mặt bằng xây dựng nhà máy tại Nhân Cơ và Bảo Lâm đã được tiến hành trước đó với những chiếc xe ủi đất cày ủi rừng Tây Nguyên đêm ngày và công nhân người Hoa đã xuất hiện hàng loạt ở Nhân Cơ và Bảo Lâm.

Thêm một chuyện đáng sợ khác là báo Tuổi Trẻ (27/3) cho biết các nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất và họ đã đem vào Việt Nam hàng chục ngàn công nhân cùng thiết bị để thực hiện các dự án. Chẳng hạn, chỉ riêng công trình xây dựng nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh đã sử dụng tới 2000 công nhân Trung Quốc.

Đó là những sự việc khó hiểu và đáng sợ, nhưng đảng và nhà nước im lặng thực hiện, không quan tâm đến những làn sóng dư luận phẫn nộ. Vì đối với đảng thì tất cả những tiếng kêu của dân hay của tướng Giáp, tướng Vĩnh, của chuyên gia Nguyễn Thành Sơn, của nhà văn Phạm Đình Trọng hay của nhiều nhân vật khác nữa thì cũng chỉ là những tiếng nói cá nhân.

Thảm kịch của Việt Nam là trước những biến cố trọng đại về hại dân, nguy nước như thế mà không thể có được những tiếng nói tập thể lớn.

Mười sáu ngàn tiến sĩ, hàng chục ngàn thạc sĩ, hàng triệu sinh viên, hàng ngàn nhà văn nhà báo, học giả, sử gia, hàng ngàn tướng tá của quân đội nhân dân anh hùng đang ở đâu? Sao không có vài ngàn người cùng kêu với tướng Giáp, tướng Vĩnh ? Sao không có được vài trăm nhà văn, học giả cùng kêu với nhà văn Phạm Đình Trọng? Sao không có được vài trăm chuyên gia lên tiếng cùng với tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn ?

Từ đó, chúng ta hiểu tại sao đảng sổ toẹt những tiếng nói đơn lẻ, vì đảng không quan tâm đến môi trường sinh thái, đến hiệu quả kinh tế, đến sự sống chết của dân đen mà chỉ quan tâm đến một việc là dùng những dự án để có thể dễ dàng đem quân Tàu vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, đem quân Tàu vào chiếm giữ những ngành kỹ nghệ quan trọng của đất nước.

3. Vinh quang của đảng:

Từ nửa thế kỷ nay, dân Việt đã nằm lòng câu nhật tụng: "Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh". Và đến mùa xuân thì đường phố rợp biểu ngữ đỏ với hàng chữ: "Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Đất Nước". Đảng là tối thượng, ở trên cả trời đất, nói chi nước. Dân Việt từ lâu đã hiểu như thế, nhưng đến nay, trước việc người Tàu lên Tây Nguyên khai thác Bauxite, và công nhân Tàu tràn vào chiếm lĩnh những công trình kỹ nghệ trọng yếu trên khắp nước cùng với sự im lặng của dân Việt, chúng ta mới sợ hãi nhận chân thêm rằng: Đảng quang vinh là đảng có thể bắt dân nuốt sự tuyệt vọng trước những việc hại dân, nguy nước của đảng mà Nguyễn Trọng Vĩnh, trong thư cất tiếng kêu bảo đảng dừng tay cũng phải nói lên tâm trạng tuyệt vọng đó khi viết: “Đành rằng các đồng chí có quyền muốn làm gì cũng được, quyết định như thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận…”. Đành rằng và nhưng… Mấy lời đó nói lên sự nguy khốn của Việt Nam với chế độ độc đảng, độc quyền khi một nhóm người có thể tự định cái quyền muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được trên vận mệnh của đất nước cùng số phận của 85 triệu con người. Khi nói Đành Rằng và Nhưng, chắc tướng Vĩnh đã hiểu hơn chúng ta là 15 Bộ Chính Trị muốn làm gì, quyết định thế nào cũng được thì không thể có chữ “nhưng”, vì dân với dư luận có là cái gì trước quyền uy tuyệt đối của vua Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, và Nguyễn Phú Trọng…

Vì thế chúng ta hiểu thêm vinh quang của đảng là đảng có toàn quyền đem quân Tàu vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, đem quân Tàu vào chiếm giữ những kỹ nghệ trọng yếu hay nói gọn hơn là Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam có toàn quyền bán nước vì lợi ích của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng Sản.

Dân Việt có thấy không ? Đảng Cộng Sản VN đã tạo ra hai cuộc chiến tranh nhân danh giải phóng dân tộc, hy sinh mấy triệu người, xẻ dọc Trường Sơn, chiếm cho được miền Nam để cuối cùng đưa nước vào vòng lệ thuộc Tàu, dìm 80 triệu dân Việt vào kiếp nô lệ Tàu.

Trước tình thế đang diễn ra, chúng ta hiểu nếu không tạo được sự kết hợp quật khởi của toàn dân mà chỉ có những tiếng nói cá nhân thì mai đây tất cả sẽ chẳng còn gì khi quân Tàu đặt xong xiềng xích, gông cùm trên đất nước Việt Nam.

Sự im lặng khinh dân của đảng Cộng Sản nói lên quyền uy tuyệt đối của bạo quyền, còn chúng ta, những con dân Việt có thể tiếp tục cúi đầu nuốt hận, im lặng để nhìn cái chết của chúng ta cùng với cái chết của đất nước hay không ?

Việt Dương

NGÀY 30 THÁNG 4

NGÀY 30 THÁNG 4.

Đối với người Việt Tự Do, ngày 30 tháng 4 mang nhiều ý nghĩa. Trên bình diện lịch sử ngày 30 tháng 4 là một ngày đen.

Ngày những chiếc tăng T54 do Liên-Xô chế tạo nghiền nát đường phố Sài Gòn thân yêu rợp bóng me xanh. Ngày những chiếc trực thăng cất cánh từ sân thượng của những cao ốc. Ngày có những tiếng loa phóng thanh ra lịnh các cấp chính quyền miền Nam tập trung, trình diện vang lên trên đường phố. Ngày với những tiếng hát cao the thé của những nữ văn công miền Bắc vọng ra từ đài phát thanh vừa rơi vào tay Cộng Sản.

Ngày những Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long và bao nhiêu người con yêu khác của mẹ VN đã dò theo bước chân của Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương mà lần lượt ra đi.

Trong bình diện xã hội, 30 tháng 4 là ngày điêu tàn tang tóc. Mẹ mất cha, anh xa em, vợ lạc chồng, những đứa trẻ mồ côi lạc loài trên đường phố, nước mắt ai rơi trên bờ biển, tiếng khóc thét của em bé vừa sinh ra trên những chuyến hải hành vội vã trong đói khát, lo âu, tuyệt vọng. Trong bình diện đấu tranh 30 tháng 4 là ngày quốc kháng. Ngày khởi điểm cho một mặt trận mới vì nhân quyền, tự do và dân chủ. Dù gọi 30 tháng 4 là ngày quốc hận, quốc nạn, quốc kháng hay là ngày gì đi nữa, thì trong tâm tư của mỗi người miền Nam sống trong ngày tháng đó vẫn là một tâm tư hãi hùng, lo sợ, bàng hoàng và đau xót.

Tất cả hình ảnh đó dường như đang xảy ra trong phút giây chúng ta đang thở. Tiếng súng như vẫn còn nghe. Ngọn lửa như vẫn còn đang nóng.

Thế nhưng đã là 32 năm. Đứa bé nằm trên bụng mẹ ngậm núm vú lạnh tanh không còn một giọt sữa mà không biết mẹ mình đã chết từ lâu, trong một bức ảnh đăng trong một tờ báo Mỹ, nay đã hơn 30 tuổi. Và chúng ta, những người VN may mắn còn sống sót, vẫn như em bé kia, đang ngậm nỗi buồn nơi đất khách.

Dù tự an ủi bằng bao nhiêu bài thơ, bài hát chuyên chở niềm tin và hy vọng, bao nhiêu tuyên ngôn, tuyên cáo khẳng định lập trường, thì giấc mơ VN về một buổi sáng đẹp trời cho dân tộc vẫn còn là một giấc mơ thôi. Ba mươi hai năm qua đi. Thế giới đã đổi thay nhanh chóng. Cuộc vận hành của lịch sử văn minh con người không chạy bằng những chuyến tàu điện nhưng đã chuyển sang thời kỳ của những máy bay siêu tốc. Tín hiệu Morse đã được chính thức thành lịch sử. Ông Denis Tito đã mua vé đi du lich trong quỹ đạo trái đất và trở về bình an. Ông Nelson Mandela đã ra khỏi tù và đưa đất nước ông vững tiến trên con đường dân chủ. Anh Ismail Darramy cụt hai tay của xứ Sierra Leon đã cười tươi vì được quyền bỏ phiếu. Những đồ dùng chúng ta đang xử dụng trong nhà từ chiếc máy điện toán, chiếc microwave, DVD v.v. đều không có ba mươi năm trước, hay nếu có, cũng chỉ trong phòng thí nghiệm. Nói chung, tiến bộ và văn minh nhân loại đã bước một bước rất dài.

Nhìn lại đất nước VN, trong mọi lãnh vực, sau 32 năm chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức thì đang trở về gần với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Và do đó, vấn nạn lớn nhất mà dân tộc VN đang phải đối diện hiện nay là lạc hậu về kinh tế chính trị và lạc hậu về văn hóa tư tưởng.

Khi nhận xét rằng VN lạc hậu kinh tế, không ít độc giả trong nước chưa có dịp tiếp xúc và so sánh giữa tiến bộ của thế giới và thay đổi tại VN, có thể không đồng ý với tôi. VN có cao ốc mới, khách sạn mới, cầu mới, đường mới, xe mới, nhà mới, số lượng du khách ngày càng tăng. Vâng, không ai chối cãi điều đó. Thế nhưng, trong một nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa, mức độ phát triển của một quốc gia được xác định không phải bằng các chỉ tiêu riêng của từng quốc gia nhưng bằng sự so sánh với các quốc gia trong cùng khu vực, cũng như trong tương quan kinh tế thế giới. So sánh với đà phát triển của nhân loại, ba mươi hai năm, nền kinh tế VN như người bộ hành già nua đang đếm từng bước thầm trên xa lộ tân thời. Hãy nhìn bầy kiến cõng những hạt gạo nhỏ li ti kia, nếu chúng cõng liên tục ba mươi năm cũng có thể tạo nên một cao ốc đừng nói chi con người. Câu khẩu hiệu "Với sức người sỏi đá cũng thành cơm" không phải nói lên sự cố gắng nhưng phản ảnh sự lạc hậu về kỹ thuật, và cũng tố cáo bản chất bất nhân, tàn nhẫn của một giai cấp thống trị đối với nhân dân VN.

Ba mươi hai năm qua, nếu không có nhiều tỉ đô-la hàng năm gởi về từ những người một thời đã bị chế độ nguyền rủa, trù ẻo để bị chết trôi, chết chìm trên biển Đông thì nền kinh tế VN còn tệ hại đến mức nào. Hai triệu người Việt hải ngoại gởi tiền về để giúp đỡ gia đình, bà con, thân thuộc, trại mồ côi, trại cùi bởi vì họ là những người đã được nuôi dưỡng bằng những lời ru đậm đà tình thương của mẹ, bằng những câu ca dao chan chứa tình đồng bào "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngã em nâng". Nếu họ được giáo dục bằng hận thù giai cấp, bằng sắc máu đấu tranh như những người Cộng Sản thì nền kinh tế VN ngày nay có thể vẫn còn đứng đầu bảng xếp hạng các quốc gia nghèo đói hàng năm của Liên Hiệp Quốc.

Khi nhắc đến những đổi thay kinh tế tại VN, một yếu tố quan trọng khác cũng cần lưu ý là những cái mới đó thuộc về ai. Hãy bước ra đường hỏi người lái chiếc xe Nhật đắt tiền kia ông là ai, bà là ai. Hãy bước vào một cao ốc hỏi ông chủ khách sạn năm sao nguy nga tráng lệ kia, trong điều kiện xã hội chủ nghĩa thì tiền ở đâu ông có để xây một khách sạn nhiều tầng như thế.

Hãy bước vào nhà ông Chủ Tịch Huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên hỏi rằng với đồng lương của cán bộ cấp thấp như ông, thì mấy chiếc xe tải và đàn bò mấy chục con của ông từ đâu tới. Hãy bước vào trụ sở Hội Đồng Bộ Trưởng để hỏi các ông bà ủy Viên Trung Ương Đảng, Bộ Trưởng, với cấp số lương Bộ Trưởng mà Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Nguyễn Văn An than thở "Lãnh đạo VN là những người nghèo nhất" thì làm sao các ông, các bà có dư hàng trăm ngàn đô-la để lo cho con sang Mỹ học. Sẽ không ai trả lời. Đơn giản bởi vì chẳng một kẻ cướp nào muốn thừa nhận mình là cướp, nhất là cướp từ những người cùng khổ nhất trong xã hội. Tương tự, hãy đi bờ sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và hỏi những người đang đào hến, họ đã đào như thế bao nhiêu năm rồi. Hãy bước vào chợ Bến Thành hỏi những đứa bé đang lượm từng con cá ươn trong buổi chợ chiều, cha mẹ em đâu, nhà cửa em đâu, trường học em đâu. Hãy lên bịnh viện Chợ Rẫy hỏi những bà mẹ đang sắp hàng chờ bán máu, trong ba mươi hai năm qua, bà đã bao nhiêu lần bán máu. Hãy bước ra đường hỏi người phu đang cong chiếc lưng hốt từng đống rác, bao nhiêu chiếc chổi đời đã quét xuống lưng ông.

Hãy vào những con hẻm tối hỏi các em thanh niên nam nữ tuổi hai mươi đang bán á-phiện, ma túy, làm điếm trên những công viên tăm tối hay đang tự giết đời mình bằng những cuộc đua xe bạt mạng trên đường phố, hoài bão của các em về cuộc sống hôm qua, hôm nay và mai sau rồi sẽ ra sao. Họ có thể cũng không trả lời; không phải họ không muốn nói, nhưng như một Mục Sư làm công tác thiện nguyện tại VN đã viết: "Tuổi trẻ VN ngày nay không biết định nghĩa của hai chữ hoài bão là gì". Một dân tộc mà thế hệ hai mươi không có một hoài bão cho đời mình, dân tộc đó sẽ đi về đâu ? Một dân tộc với 65 phần trăm tuổi trẻ nhưng không có một cơ hội để tiến thân, sống trong hoang phí, sống như những tử tù đang chờ chết thì tương lai của họ sẽ về dầu Muốn biết đất nước về đâu, hãy nhìn thẳng vào đôi mắt sâu chứa đầy nỗi lo âu, chiếc lưng đầy vết sẹo, bàn tay còn hàng trăm dấu chích của họ để qua đó đọc được cả quá khứ lẫn tương lai của một đất nước. Đất nước của họ không phải là bài ca anh hùng đánh thắng bao nhiêu đế quốc nhưng là một địa ngục đày đọa kiếp con người mấy chục năm qua.

Số lượng du khách đến VN ngày một đông. Vâng. Hãy hỏi một người du khách, phải chăng bà đến đây vì long kính phục VN như một nhà thơ phản chiến Thụy Điển, đã từng viết trong thời kỳ chiến tranh: "Tôi mơ sáng mai thức dậy biến thành người VN", hay chỉ vì VN là một nơi hưởng thụ rẻ nhất Á Châu. Hãy hỏi ông du khách phải chăng ông đến VN để tìm hiểu một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến hay là vì trên quê hương tôi giá trị đồng đô-la còn hấp dẫn hơn nhân cách con người. Hai chữ đầu tiên trên những tờ quảng cáo du lịch VN bao giờ cũng bắt đầu hai chữ Hấp Dẫn và Rẻ Tiền. Hấp dẫn và rẻ tiền chứ không phải nhân phẩm và lịch sử.

Đúng thế. Phóng viên ký tên Tương Lai của báo tuổi trẻ trong bài viết "Nỗi Đau Từ Những Con Số", đăng vào sáng ngày mùng Một Tết vừa qua, mô tả số phận của 65 ngàn phụ nữ VN đang sống với những ông chồng già Đài Loan, bất đồng ngôn ngữ, tuổi tác, học vấn. Họ bỏ gia đình và quê hương đi làm tôi mọi cho ngoại nhân, chỉ vì một vài trăm đô-la. Ngoại trừ VN, có lẽ không có nơi nào trên thế giới, chính phủ lại cho phép mua bán đàn bà, con gái một cách công khai như thế.

Ngoại trừ VN, có lẽ không một quốc gia nào có một bà Bộ Trưởng Lao Động Xã Hội và Thương Binh Nguyễn Thị Hằng miệng cười như hoa nở khi đặt bút ký hợp đồng xuất cảng lao động ra nước ngoài, thực chất là xuất cảng mồ hôi, máu, nước mắt và cả thể diện quốc gia.

Phải chăng, sau 32 năm, những định nghĩa của phẩm cách con người cũng theo đà tiến lên chủ nghĩa xã hội mà thay dần ý nghĩa. Nhắc chuyện đạo đức, tôi chợt nhớ lại một đêm thật khuya của mười hai năm trước, ngồi đọc phóng sự của một nhà báo Mỹ viết về cảnh các cô gái VN vừa mới lớn đang hành nghề mãi dâm trên trên đại lộ Sri Ayuthaya, thủ đô Bankok, Thái Lan. Tôi buồn không ngủ được. Các em đều trong tuổi vị thành niên. Hầu hết chỉ mười sáu, mười bảy tuổi. Lẽ ra giờ này các em phải ngồi trong lớp học, học làm người phụ nữ VN, học chuyện thêu thùa, may vá, trông con và học cả chuyện yêu đương, đẹp như trăng khi tròn khi khuyết. Thế nhưng, nghèo đói đã xô đẩy em khỏi ngôi trường mà em yêu mến. Nghiệt ngã đã xua em ra khỏi vòng tay nuông chiều của mẹ. Lạc hậu đã xô em xuống giòng sông Chao Phraya nước đục quê người. Ngày đó tôi vẫn nghĩ hoàn cảnh như thế là đau thương và bi thảm nhất, như tôi đã viết trong bài thơ:

Sau những lúc đau thương da thịt rã rời

Em có khóc một mình trong bóng tối

Mỗi giọt lệ sẽ mang màu sám hối

Mỗi lời rên chôn giấu những ăn năn

Tóc thu buồn như những sợi oan khiên

Trói lấy cuộc đời em nghiệt ngã

Về đâu em chiều nay trên đất lạ

Về đâu em mưa gió phủ đầy sông

Người con gái VN trên đại lộ Sri Ayuthaya

Đang nhắm mắt nhìn đời trôi vô tận

Lịch sử VN vinh nhục thăng trầm bao nhiêu bận

Nhưng chưa bao giờ đen tối hơn hôm naỵ

Ngày đó Internet chưa thịnh hành như bây giờ, nhưng cũng đã có nhiều khuynh hướng. Có anh chị thích bài thơ, nhưng cũng có người cho rằng tôi đã bi thảm hóa tình trạng VN chỉ nhằm mục đích tuyên truyền chống chế độ.

Theo anh chị đó, đất nước đã chuyển mình sang thời kỳ mới, nghèo đói đã đi dần vào quá khứ, một tương lai tươi sáng đang mở ra, hãy để cho nhà nước một cơ hội thay cũ và đổi mới, v.v.và v.v. Mười hai năm sau, điều mà trước đây tôi bị gọi là đã làm "thảm hóa" thực trạng VN lại càng thê thảm hơn nhiều. Những cô gái 16, 17 tuổi đứng trên đường Sri Ayuthaya hay trên đường phố Nam Vang ngày nào, bây giờ không còn nữa. Các em đã về đâu giữa một thành phố, mà nơi đó, theo thống kê của cơ quan AIDS Liên Hiệp Quốc, UNAIDS, 44 phần trăm gái mãi dâm mang trong người bịnh AIDS. Các em hoặc đã chết trong một trại AIDS ở Bangkok, ở Chiang Mai, hay nếu may mắn sống sót trở về được quê hương cũng chỉ để lây lất ở một góc tối nào đó trong chuỗi ngày tàn tạ của đời mình. Chỗ của em đứng ngày xưa không phải vì em chết đi mà bỏ trống.

Chiếc giường tre nơi em đã nằm chờ khách không phải vì em ra đi mà bỏ trống. Nơi em đứng năm xưa đã có một bàn chân khác vừa đứng đó. Trên manh chiếu em nằm đã có người con gái khác đang nằm. Bàn chân của kẻ đến sau nhỏ nhắn hơn em. Bàn tay như hai búp măng non của kẻ đến sau hồng hào xinh xắn hơn em. Đôi mắt của kẻ đến sau đen và tròn hơn đôi mắt của em. Thân hình của kẻ đến sau không lớn hơn thân hình của những con búp-bê Barbie đang bày trên giá của tiệm bán đồ chơi. Vâng, những kẻ đến sau chính là những Barbie VN. Nói như chị Nam Dao, chúng là những con búp-bê biết khóc tiếng người. Những kẻ đến sau chính là những cháu bé, lẽ ra giờ này đang ngồi trong trường mẫu giáo, học những bài hát tuổi thơ "Kìa con bướm vàng", "Ông trăng xuống chơi" thay vì những tiếng lóng "yum yum", "bom bom" nhục nhã. Nghe các cháu vừa cất giọng bằng tiếng Việt, tôi cảm thấy như đang một viên thuốc đắng vừa vỡ ra trong cổ mình.

Tôi chỉ mong các cháu nói dùm tiếng Thái, tiếng Miên, tiếng Lào. Tôi biết mình nghĩ thế là ích kỷ nhưng vẫn hơn là tiếng Việt. Không, các cháu nói tiếng Việt. Đau xót, nhục nhã, bất hạnh đã không còn đủ nghĩa. Lâu lắm rồi tôi mới cảm thất mất bình tĩnh như thế.

Tôi viết khá nhiều thơ về thực trạng VN, từ những bà mẹ chết trôi sông cho đến những trẻ thơ lạc loài trên vùng Kinh Tế Mới, nhưng tôi không đủ can đảm xem hết đọan phim phóng sự về nạn bán dâm tại Campuchia, đừng nói gì đến chuyện cầm bút viết một bài thơ hay một đoản văn. Tôi sẽ viết gì? Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng có giới hạn, nhưng sự tủi nhục khi nhìn một đứa bé VN 8 tuổi bán dâm đã vượt qua sức chịu đựng của tôi. Loài cầm thú còn biết chọn nơi, chọn tuổi đừng nói chi là con người. Khi bàn đến sự lạc hậu về tư tưởng tại VN, cũng có thể một số bạn trong nước cho rằng tôi xa nhà lâu năm nên không biết.

VN có tư tưởng chứ. Tư tưởng Mác Lê-Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những ngọn hải đăng của thời đại. Nhắc đến Mác, tôi chợt nhớ câu chuyện đọc trên báo cách đây không lâu nhân ngày sinh nhật 5 tháng 5 của Các Mác. Sáng ngày đó, một bản tin nhỏ được gởi đi từ nghĩa trang High Gates, nơi có ngôi mộ của triết gia Cộng Sản nàỵ Bản tin không phải trích lời chúc mừng sinh nhật Các Mác của một chủ tịch nước hay một tổng bí thư đảng Cộng Sản nhưng trích lời than thở của người quản lý 166 ngàn ngôi mộ, trong đó có Các Mác, chen chúc nhau trong nghĩa địa thuộc phía đông thành phố London, Anh Quốc. Trong bản tin, người quản lý nghĩa địa High Gates than phiền rằng ông không có một ngân khoản nào để mướn người cắt cỏ hoang trong nghĩa trang rộng 36 mẫu nàỵ Từ sau khi Liên Xô và hệ thống Cộng Sản thế giới sụp đổ không còn ai buồn thăm viếng Mác, và đương nhiên cũng không còn ai đóng góp tiền bạc để chăm sóc mộ Mác. Nghĩa trang High Gates tiêu điều và hoang vu đến nỗi một lần đã được chọn để làm ngoại cảnh cho một cuốn phim ma. Mặc dù nơi chon cất của Mác là nơi dựng phim kinh dị, câu chuyện về thiên đường Cộng Sản đã nhiều lần được viết thành hài kịch, chủ nghĩa Mác đã bị các phần lớn trường đại học thế giới loại bỏ khỏi giáo trình, thành phố Leningrad đã được đổi lại tên cũ Saint Petersburg, có một nơi vẫn còn con đường mang tên Mác, còn công viên mang tên Lênin, và những bài viết đấu tranh giai cấp đầy sắc máu hận thù của Mác, Lênin, Stalin vẫn được xem là kinh điển, vẫn mỗi ngày nhuộm đỏ lên tâm hồn trong như ngọc của tuổi thơ. Nơi đó là VN.

Sau sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản thế giới, giới lãnh đạo Cộng Sản VN không còn chỗ dựa về mặt lý luận nên đã Việt hóa ý thức hệ Cộng Sản bằng việc thêm cụm từ tư tưởng Hồ Chí Minh sau khẩu hiệu chủ nghĩa Mác Lênin đã không còn dụ dổ được ai. Thật sự làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh, một người cả đời không viết được một tác phẩm lý luận hoàn chỉnh, ngoài tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch ký dưới tên Trần Dân Tiên.

Hầu hết các tác phẩm gọi là của Hồ Chí Minh được phát hành tại VN luôn bắt đầu với chữ "Về", như "Về Độc Lập Dân Tộc", "Về Chủ Nghĩa Xã Hội". Đó là những lời phát biểu trong các buổi mít-tinh được chép lại. Khi gọi những bài nói chuyện, bài viết không đầu không đuôi của Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập của dân tộc VN, giới lãnh đạo Cộng Sản đã chứng tỏ sự khinh mạn đối với truyền thống lịch sử dân tộc. Ý thức độc lập tự do của dân tộc bắt đầu từ hơn bốn ngàn năm trước chứ không phải từ ngày thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930.

Quyền tự chủ của dân tộc VN đã được Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và vô số anh hùng dân tộc khẳng định từ nhiều ngàn năm trước chứ không phải từ Hồ Chí Minh.

Giới lãnh đạo Cộng Sản VN đã cướp đoạt không những chỉ tài nguyên của cải đất nước, mà cướp đoạt cả những giá trị tinh thần đã hun đúc nên giòng giống Đại Việt. Mười lăm năm sau ngày đế quốc Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, trên đường phố Hà Nội vẫn còn treo khẩu hiệu "Chủ Nghĩa Mác-Lênin Vô Địch Muôn Năm" để mừng ngày đại hội đảng. Thật là chuyện mỉa mai, buồn cười và ngu xuẩn vượt thời gian. Nếu Jay Leno và David Letterman có dịp thăm viếng VN, hai danh hề này sau khi trở về, sẽ làm khán giả cười nghiêng ngửa với những mẫu chuyện có thực trong đời sống tại VN.

Hiểu được điều này chúng ta sẽ thấy tại sao các thế hệ trẻ VN ngày nay không còn quan tâm đến trường học, không biết chọn một hướng đi cho đời mình. Làm sao các em có thể thấy hướng đi khi bị nhồi sọ bằng những lý thuyết viễn vông mà nhân loại đã xếp vào ngăn tủ từ bao nhiêu năm trước. Làm sao các em có thể thấy tương lai, hiểu được tình người, khi cả tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành bị nhào nặn bằng những tư tưởng hận thù giai cấp, bóc lột, đấu tranh. Tuổi trẻ VN thà chọn lựa những trò tiêu khiển hiểm nguy, chọn lựa đời sống ngoài khuôn thước hơn là phấn đấu để vào đoàn, vào đảng.

Chúng ta đều biết đến thảm trạng tại VN nhưng ai sẽ là những người chịu trách nhiệm trước lịch sử và trước tòa án lương tâm của dân tộc VN sau nàỷ Đối với tuyệt đại đa số người Việt yêu chuộng tự do, câu trả lời rất dễ dàng. Thủ phạm đã gây ra những điêu linh tang tóc, nghèo nàn lạc hậu, làm mất nhân phẩm của người Việt, đầu độc các thệ trẻ VN, hủy diệt mọi mầm xanh đang cố gắng vươn lên của dân tộc, không ai khác hơn là giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản VN.

Điều đó không sai nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Một băng cướp ngân hàng không thể di chuyển hàng tỉ đô-la ra khỏi nhà băng nếu không có kẻ đưa đường, người dẫn lối, không có tay trong, tay ngoài, bao che, thờ ơ, dung túng.

Tương tự, đảng Cộng Sản VN sau 32 năm vẫn còn tiếp tục trấn áp nhân dân VN bởi vì, ngoài nhà tù và sân bắn, họ cũng đã được dung túng, bao che, thờ ơ và thỏa hiệp. Và những người đã thờ ơ, dung túng cho Cộng Sản trong 32 năm qua không ai khác hơn là những người VN có quyền hạn tinh thần, có trách nhiệm xã hội, có kiến thức văn hóa, có lương tâm tôn giáo nhưng đã vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, tôn giáo riêng mà làm ngơ trước đau thương của đất nước.

Tôi thật sự không tin rằng nhà nước Cộng Sản sẽ bỏ tù Hòa Thượng Thích Chơn Thiện hay Linh Mục Nguyễn Công Danh nếu hai ngài đã từ chối không chịu ra ứng cử dân biểu quốc hội bù nhìn tại VN. Tôi thật sự không tin Cộng Sản VN dám kết án Hòa Thượng Thích Trí Tịnh hay Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã "âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân" nếu các ngài gióng lên tiếng nói bất bình trước cảnh những em bé 8 tuổi đã phải làm những việc vô cùng thương luân bại lý tại Campuchia. Cả nhân loại đều phẫn uất khi biết một em bé VN chỉ vỏn vẹn 8 tuổi đầu phải phục vụ nhu cầu sinh lý cho những người bằng tuổi cha, bằng tuổi ông của các cháu. Ký giả Chris Hansen lên tiếng.Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ lên tiếng. Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ lên tiếng. Liên Hiệp Quốc lên tiếng. Đức Giám Mục Agustinus Agus của Nam Dương lên tiếng. Nhưng các ngài thì không. Con biết các ngài có trọng trách đối với giáo hội mà các ngài đang lãnh đạo. Con biết mọi hành vi của các ngài có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tôn giáo mà các ngài đang dẫn dắt tại VN. Vâng, nhưng tôn giáo đó, giáo hội đó, tín đồ đó từ đâu mà có. Phải chăng đã bắt đầu từ những tiếng khóc, tiếng cười, trái tim, bàn tay, khối óc của một giống dân đã vượt qua bốn nghìn năm gian khổ để tạo thành dải đất thân thương hình cong chữ S hiện naỷ Phải chăng đã bắt đầu từ Cha Lạc Long, Mẹ Âu Cơ trong một đêm huyền diệu của đất trời và để lại 80 triệu người con, trong đó có các ngài, hiện diện cùng năm châu nhân loại như ngày naỷ. Trên con đường các ngài đi còn vọng lên tiếng kêu trầm thống của cả dân tộc chịu đựng khổ đau suốt 32 năm qua. Hạt gạo, hạt muối mà các ngài ăn là tích lũy của bao nhiêu hy sinh gian khổ mà dân tộc VN đã đổ xuống trong 32 năm qua. Tất cả đều từ Dân Tộc VN mà có. Các ngài có trách nhiệm với giáo hội của các ngài thì ai sẽ có trách nhiệm với đất nước đâỷ Các ngài quan tâm đến sự thịnh suy của tôn giáo các ngài, thì ai sẽ quan tâm đến sự thịnh suy của dân tộc VN đâỷ Phát triển tôn giáo là trách vụ của các bậc lãnh đạo tinh thần, vâng, nhưng trách vụ đó không nên và ngay cả không được quyền đi ngược lại quyền lợi sống còn và thiêng liêng của dân tộc VN.

Hôm nay, những tiếng kêu của những con búp-bê VN biết khóc ở Campuchia vẫn như những viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút sóng lương tâm nào trong lòng những vị lãnh đạo tinh thần cao cấp nhất VN. Trong lời kinh đêm nay, ngoài việc cầu nguyện các đấng thiêng liêng để ban cho các ngài cuộc sống bình an, phò trợ cho tôn giáo của các ngài không ngừng phát triển, xin các ngài dành một lời cầu nguyện cho những đứa bé 8 tuổi bất hạnh kia được có cơ hội trở về với lớp học mẫu giáo của các cháu như hàng triệu trẻ thơ khác trên thế giới. Tôi không tin đảng Cộng Sản VN có thể đồng loạt bỏ tù hàng trăm nhà văn, nhà thơ một lúc nếu họ gióng lên tiếng nói ủng hộ nhà thơ Tiêu Dao Bảo Cự, ủng hộ nhà văn Dương Thu Hương, ủng hộ nhà trí thức phản kháng Hà Sĩ Phu.

Tôi không tin rằng đảng Cộng Sản có thể bỏ tù tất cả trí thức VN vì dám lên tiếng chia xẻ quan điểm dân chủ của bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Chí Quang. Tôi không tin chế độ Cộng Sản VN bỏ tù tất cả những người cầm bút khi họ viết về cuộc sống khổ đau của hàng trăm ngàn phụ nữ VN trên đất Thái, Miên, Đài Loan, Nam Hàn. Cuộc đời họ là những tác phẩm, những vở kịch, những cuốn phim đau thương đang cần được viết lại, chiếu lại cho các thế hệ hôm nay để đọc, để xem và và cho ngàn đời sau để tránh. Im lặng là đồng lõa. Im lặng là dung túng. Nếu một nhà văn, nhà thơ không đủ can đảm nói lên sự thật, viết lên sự thật của xã hội mình đang sống thì liệu có xứng đáng để được gọi là "những phát ngôn nhân thời đại" hay không?

Điều kiện chính trị ngày nay không giống như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Để nhận được viện trợ của nước ngoài và được công nhận như một chính phủ trong cộng đồng thế giới, Cộng Sản VN buộc lòng phải tháo lỏng bớt chiếc dây thòng lọng trên cổ văn nghệ sĩ. Nhưng tiếc thay những nhà văn, nhà thơ sĩ khí thời nay lại cũng không nhiều như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Một tiếng nói trung thực chưa kịp vang xa đã chìm vào im lặng. Một tác phẩm mang tinh thần cách mạng xã hội vừa ra đời đã bị thu hồi. Tác giả của chúng sau một chuyến được phép tham quan nước ngoài đã tự nguyện biến thành những con cừu non nằm yên trong một góc chuồng để được chờ chủ nhân sai bảo như xưa. Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, với tôi, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm naỵ Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ.

Sức mạnh của dân tộc VN không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết đi.nh. Và do đó, con đường chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.

Trần Trung Đạo

Mối Lo Hôm Nay Với Người Việt Nam

Mối Lo Hôm Nay Với Người Việt Nam.

Mộng bành trướng và khống chế Việt Nam của Trung Quốc không phải trong thời đại đang vươn mình này của Trung Quốc mới có. Đó là giấc mộng ngàn đời, từ thời đại các hoàng đế Trung quốc, qua các triều đại Minh, Nguyên, Thanh. Và gần đây Đặng Tiểu Bình, đưa Trung Quốc ra khỏi trận cuồng phong Mácxít và Maoít cũng là người đã ra lệnh cho hàng chục sư đoàn tiến đánh Việt Nam (2/1979). Và trước đó, Mao Trạch Đông, có sự tính toán để uy hiếp và tối hậu thôn tính Việt Nam.

Người Trung Hoa từ ngàn xưa vẫn xem Việt Nam là một phần đất của Trung Quốc. Những khẩu hiệu Trung Quốc- Việt Nam “núi liền núi, sông liền sông”, “môi hỡ răng lạnh” chỉ là những khẩu hiệu, và mới nhất là châm ngôn 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai.”cũng chỉ là chiêu bài để che đậy những ý đồ có tính lịch sử của Trung Quốc.

Cho nên việc giữ nước lâu dài đòi hỏi các vua chúa Việt Nam hay những nhà lãnh đạo Việt Nam nắm vững yếu tính lịch sử đó để có chính sách phòng ngự thích hợp, dù đó là chính sách kinh tế, xã hội hay quốc phòng.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập (1930) nhưng từ năm 1992, do nhu cầu sống còn trước sự sụp đổ của Đông Âu và Liên bang Xô viết, đảng cộng sản Việt Nam trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc và nền an ninh Việt Nam trở nên bị đe dọa. Sự bảo vệ biên giới đất liền, lãnh hải, hải đảo trở nên càng lúc càng yếu ớt.

Trở lại một ít lịch sử bang giao Việt Nam và Trung Quốc sau khi Mao Trạch Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc năm 1949.

Trong cuốn sách mới nhất về Mao Trạch Đông của bà Jung Chang viết chung với ông Jon Halliday nhan đề “Mao: The Unknown Story” (Những Câu Chuyện Chưa Được Tiết Lộ về Mao) (1) bà Jung Chang đã để dành một chương để nói về các ý đồ của Mao đối với Việt Nam (trang 560 -566).

Theo bà Jung Chang, mỗi hành động của Mao đối với Hồ Chí Minh đều có hậu ý. Trung Quốc giúp huấn luyện và trang bị quân đội cho ông Hồ trong chiến dịch biên giới (1950) chủ ý là không để cho các thành phần Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch bị tảo thanh tại Trung quốc chạy trốn sang Bắc Việt Nam có điều kiện trở lại tấn công Mao (2).

Nhưng đến năm 1954, Việt Nam mới thật sự nghi ngờ Trung Quốc trước thái độ tráo trở của Bắc Kinh trong cuộc hội đàm tại Geneve năm 1954.

Năm 1954 Mao phát động chương trình canh tân để biến Trung Quốc thành một siêu cường (Superpower Program). Trung Quốc cần hiểu biết kỹ thuật và trang thiết bị lúc đó đang bị Tây phương cấm vận. Trung Quốc tranh thủ viện trợ của Liên bang Xô viết, nhưng Mao biết chưa đủ nên Mao vận động giải tỏa cấm vận từ Pháp vì Pháp là nước giữ được tính độc lập với Hoa Kỳ nhiều nhất.

Lúc đó Pháp đang lúng túng tại Đông Dương. Ý của Mao là giúp Hồ Chí Minh đẩy Pháp vào chân tường rồi sẽ ra tay gỡ kẹt cho Pháp để đổi lấy điều kiện đòi giúp đỡ kỹ thuật. Tháng 5/1953 khi cuộc chiến tranh Triều Tiên sắp chấm dứt, Trung Quốc chuyển sĩ quan và cố vấn sang thẳng biên giới Việt Nam chuẩn bị cho chiến trường Đông Dương mà cao điểm là cuộc chiến thắng có tính quyết định ván bài Việt Nam của trận Điện Biên Phủ tháng 5/1954.

Theo tài liệu của bà Jung Chang, trước khi hội nghị Geneve họp (26/4/1954) Mao đã quyết định sẽ giúp Pháp và tìm một giải pháp nhẹ nhàng cho Pháp chứ không để cho đảng Cộng sản Việt Nam nhân cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ đòi những điều kiện bất lợi cho Pháp. Thống nhất Việt Nam bằng cách đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự, đuổi Pháp một lèo ra khỏi Đông Dương là một trong những chương trình của đảng Cộng sản Việt Nam .

Ngày 7/5/1954 Điện Biên Phủ thất thủ. Ngày 17/5 chính phủ Pháp sụp đổ. Theo kế hoạch của Mao sẽ dùng chiến trường Việt Nam đổi chác với Pháp, ngày 23/5 thủ tướng Chu Ân Lai gặp riêng tân thủ tướng Pháp Mendes France tại Geneve và đưa ra món hàng đổi chát. Phái đoàn đảng Cộng sản Việt Nam do thủ tướng Phạm Văn Đồng cầm đầu hoàn toàn không hay biết sự đối chác này.

Phạm văn Đồng đưa ra một chương trình ở thế mạnh gồm chấm dứt chiến tranh, Pháp rút ra khỏi Đông Dương, thành lập Liên bang Đông Dương Việt Miên Lào, và không đồng ý chia cắt Việt Nam như gợi ý của phái đoàn Chu Ân Lai. Ông Đồng nghĩ rằng quân đội Cộng sản Việt Nam đang làm chủ chiến trường Bắc Việt, và đã kiểm soát một khu rộng lớn tại miền Nam Trung bộ và Nam bộ nên không có lý do gì chấp nhận giải pháp chia cắt. Mặt khác với sự mất tinh thần của quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ và thời gian hứa hẹn của thủ tướng Mendes France (3), Hà Nội có thể đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự là đủ buộc đối phương phải nhượng bộ chấp nhận chương trình của Hà Nội.

Tuy nhiên Chu Ân Lai chỉ trích chương trình của Phạm Văn Đồng và vừa áp lực vừa dọa rằng nếu Hà Nội tiếp tục thừa thắng tấn công đẩy Pháp vào chân tường Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc có thể nhập cuộc như đã xẩy ra tại Triều Tiên. Chu Ân Lai cho biết nếu Hà Nội không ký một bản hiệp ước tạm thời chia cắt Việt Nam thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải tự lực chiến đấu, Trung Quốc không có điều kiện để tiếp tục giúp đỡ (4).

Hồ Chí Minh biết không thể làm ngược lại ý của Trung Quốc, hơn nữa Hồ Chí Minh cũng không muốn thấy cuộc chiến tranh Việt Nam biến thành một trận chiến tranh Triều Tiên thứ hai nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký Hiệp định hòa bình chấm dứt chiến tranh và chia đôi Việt Nam qua vĩ tuyến 17. Theo các nhân chứng tại Geneve, Phạm Văn Đồng đã khóc mà tuân lệnh Hồ Chí Minh. Chọn vĩ tuyến 17 thay vì vĩ tuyến 16 là một món quà “phụ thêm” của Trung Quốc tặng cho Pháp vì quốc lộ số 9 nối liền Lào với biển nằm giữa vĩ tuyến 16 & 17.

Đầu năm 1965, khi Brezhnev bắt đầu chương trình tăng viện trang bi nặng cho đảng Cộng sản Việt Nam như súng phòng không và hỏa tiễn để chống cuộc không tập của không quân Hoa Kỳ vào miền Bắc Việt Nam, Mao thuyết phục Brezhnev nên dành tài nguyên đó để đương đầu phía Âu châu hơn là giúp Việt Nam. Mặt khác Mao thuyết phục Hồ Chí Minh chớ nên quá lệ thuộc vào Mạc Tư Khoa. Chu Ân Lai suy bụng ta ra bụng người từng nói với Phạm Văn Đồng rằng: “Các anh không nên nhận viện trợ của Liên Bang Xô viết … Liên Bang Xô viết giúp các anh chỉ để tạo điều kiện thương thuyết làm hòa với Hoa Kỳ thôi.”

Trong khi đó Mao nỗ lực o bế Hồ Chí Minh. Mao cho đổ vào Việt Nam tiền bạc và hằng ngàn tấn vật liệu và vũ khí nhẹ cùng với 130.000 binh sĩ để giúp điều khiển súng phòng không và bảo trì hệ thống lưu thông chống cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ. Theo bà Jung Chang, Trung Quốc còn dùng mỹ nhân kế giới thiệu một thiếu phụ trẻ đẹp làm vợ Hồ Chí Minh.

Ngày 31/3/1968 khi tổng thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ 2 (11/1968) và đề nghị thương thuyết, Trung Quốc khuyên Hà Nội đừng nhận lời, nhưng Hà Nội vốn nghi ngờ thiện chí của Trung Quốc đã nhất định đi tới và ngày 3/4/68 tuyên bố nhận lời đề nghị của tổng thống Johnson.

Khi cuộc thương thuyết tại Paris bắt đầu. Chu Ân Lai nói với Hà Nội rằng Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm thương thuyết với Hoa Kỳ nên Hà Nội cần cố vấn của Trung Quốc trong phái đoàn thương thuyết. Trung Quốc tìm cớ ngăn cản sự chuyển vận vật liệu chiến tranh cho Bắc Việt (của Trung Quốc và của Nga chở qua đường Trung Quốc) và cắt đứt các cuộc dàn xếp viện trợ tương lai. Hà Nội được yêu cầu đừng gởi phái đoàn thương thuyết viện trợ dự tính đi Bắc Kinh tháng 10/1968.

Trung Quốc làm khó khăn Hà Nội vẫn không để cho Trung quốc nắm cuộc thương thuyết tại Paris.

Không dùng viện trợ uy hiếp được Bắc Việt, Mao dùng phương pháp gián tiếp. Mao thành lập một đảng Cộng sản Cambốt lấy tên là Khmer Đỏ do Polpot cầm đầu, vừa chống Sihanouk vừa chống Việt Nam, và năm 1967 Mao định đảo chánh lật đổ Sihanouk để thiết lập một chế độ thân Trung Quốc tại đó nhưng không thành.

Cơ hội tới khi tướng Lonnol (với sự tổ chức của cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA) đảo chánh lật đổ Sihanouk ngày 18/3/1970. Mao vội vàng đưa Sihanouk sang Bắc Kinh và thuyết phục Việt Nam phối hợp với Sihanouk thành lập một mặt trận Đông Dương chung chống Mỹ (lẽ dĩ nhiên) dưới sự lèo lái của Trung Quốc.

Chính sách của Mao đối với Hà Nội thống nhất ở chỗ tạo trở ngại không cho Việt Nam thống nhất và ngăn cản không để Việt Nam tạo ảnh hưởng tại hai nước Miên, Lào. Ngay cả Mặt Trận Giải Phóng miền Nam do Hà Nội nặn ra do nhu cầu chính trị xâm lấn miền Nam. Trung Quốc cũng không bỏ lỡ cơ hội ve vuốt, mua chuột để tách Mặt Trận này ra khỏi ảnh hưởng của Hà Nội. Chính sách trước sau của Trung Quốc là không để cho Việt Nam trong bất cứ trường hợp nào trở thành một quốc gia thống nhất.

Trong thời kỳ chiến tranh (chống Pháp 1946-1954), và xâm lấn miền Nam (1960-1975) Hà Nội dùng chính sách đi dây giữa Trung Quốc và Liên Bang Xô viết để bảo đảm nguồn viện trợ quân sự và kinh tế, nhưng sau 1975, Hà Nội bắt đầu có thái độ độc lập hơn với Trung Quốc.

Để giải tỏa gọng kềm của Trung Quốc chọc từ phía Cam bốt, tháng 12/1978 Hà Nội tấn công lật đổ chế độ Polpot thân Trung Quốc. Hậu quả là cuộc tấn công trả đũa của Trung Quốc qua biên giới phía Bắc tháng 2/1979.

Nhưng vào năm 1992 tình hình thế giới chuyển biến đột ngột. Liên Bang Xô viết sụp đổ và Hoa Kỳ đã rút ra khỏi vùng Thái Bình Dương trong khi Trung Quốc trở nên lớn mạnh về cả hai mặt quân sự và kinh tế. Hà Nội trước sự đe dọa sụp đổ đã phải nhờ cậy vào Trung Quốc để sống còn nên mất tư thế của một nước có chủ quyền đối với Trung Quốc.

Cộng sản Việt Nam hiện nay không đủ bản lãnh để hoạch định một chính sách giữ nước trong những điều kiện mới. Và từ sự thiếu vắng chính sách và nhân sự lãnh đạo vững vàng là một chuổi dài thua thiệt và nhượng bộ.

Hà Nội phải ký hai Hiệp ước đất liền (1999) và biển (2000) với những điều khoản bất lợi. Mất thêm đất trong vùng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, và nhiều chục ngàn hải lý rộng trong vịnh Bắc Việt. Vùng đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vịnh Bắc Việt và ngoài khơi biển Nam Hải bị hạn chế do chính sách “gunboat” của Trung Quốc. Ảnh hưởng của Việt Nam đối với hai nước láng giềng Cam Bốt và Lào dần dần bị thu hẹp. Trung Quốc đã thả hai gọng kềm hai bên hông Việt Nam, một bên là Lào nay hoàn toàn tùng phục Trung Quốc, một bên là căn cứ tàu ngầm tại cực nam đảo Hải Nam. Tương lai của Việt Nam còn lệ thuộc vào nguồn dầu hỏa trên biển Đông thì Việt Nam hiện nay cũng không có điều kiện khai thác. Nỗ lực khai thác qua việc ký giao kèo tìm dầu khí với công ty BP của Anh (2007) và ExxonMobil của Mỹ (2008) không thành trước áp lực của Trung Quốc.

Ngư dân bị tàu Trung quốc bắn chết (1/2005) trong Vịnh Bắc Việt Hà Nội không dám lên tiếng công khai phản đối và đòi bồi thường.

Trung Quốc lấy đất của Việt Nam ghép vào quận huyện của Trung quốc (12/2007) Hà Nội không dám để cho nhân dân biểu tình bày tỏ sự phản đối.

Và năm nay, kỷ niệm 30 năm trận chiến bảo vệ biên giới năm 1979, báo chí Hà Nội không được viết lách tự do ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc. Và làm lễ chào mừng các chiến sĩ đang trú đóng tại Trường Sa mà báo chí và các cơ sở truyền thông do chính phủ kiểm soát không loan tin… Và còn nữa!

Vậy phải làm gì ?

Phát huy nội lực và liên kết với đồng minh là sách lược ngàn đời để cứu nước.

Liên kết với ai ? Nếu không phải với Hoa Kỳ, Úc châu, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên bang Nga, Liên hiệp Âu châu, Hiệp Hội Asean trong đó có trọng lượng nhất là Hoa Kỳ. Nhưng chính Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế và trong kế hoạch chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ cũng đang nhờ sự hợp tác tài chánh của Trung Quốc. Trung Quốc đã không ngần ngại cho biết thế yếu của Hoa Kỳ và cảnh giác Hoa Kỳ chớ quá nóng vội giúp đỡ Việt Nam.

Bà Hillary Clinton tân bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ trong chuyến công du đầu tiên đến Trung Quốc (2/2009) đã lỡ lời “thỉnh cầu” Trung Quốc mua trái phiếu quốc gia của Hoa Kỳ để cùng có lợi chung thì liền ngay sau đó Trung Quốc cho tàu chiến nghênh tàu của Hoa Kỳ trong biển Đông trong một vùng biển được hiểu là hải phận quốc tế. Để áp lực Hoa Kỳ nhượng bộ trên biển Đông, thủ tướng Ôn Gia Bảo lên tiếng nhắc khéo rằng “không biết trái phiếu Trung Quốc đang mua của Hoa Kỳ có bảo đảm không?”

Chính sách từ Mao, đến Đặng Tiểu Bình, rồi nay đến Hồ Cẩm Đào trước sau vẫn là khống chế Việt Nam. Và trong chiến lược lâu dài đương đầu với Hoa Kỳ để giành quyền bá chủ, Trung Quốc sẽ phải chủ động mở con đường về phía nam trước. Bất cứ gì trên con đường tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều phải được thôn tính.


Trần Bình Nam

Lòng Dân Đã Chuyển

Lòng Dân Đã Chuyển.

Khi còn ở quê, chúng tôi quan sát được những trận chiến giữa Đảng và Dân tuy hết sức quyết liệt nhưng vẫn ở quy mô nhỏ. Đó là những vụ dân oan tập trung từ cỡ dăm bảy gia đình cho tới hàng trăm người lăn xả vào đòi lại đất bị Đảng “thu hồi”. Cứ thế, chúng tôi nghe được những tin tức tương tự trên cả nước, mặc dù báo chí nội địa thì... câm.

Ví dụ, các vụ hàng ngàn dân oan miền Nam kéo lên Sài Gòn biểu tình đòi đất.
Tôi đã đọc và rất tán thành ý kiến của chị Đỗ Thuý Hường (học Luật, hơn chúng tôi vài ba tuổi) nói rằng (đại ý): Cái Đảng vô sản này khởi đầu không có một tấc đất nào, sau khi cướp được chính quyền bỗng ban hành cái Luật Đất Đai để trong nháy mắt chiếm giữ toàn bộ đất đai, lãnh thổ của dân tộc, rồi “ra ơn” ban phát cho dân được “mượn” và khi cần cướp lại thì dùng từ “thu hồi”.
Các vụ Dân chống Đảng này, không chỉ khu trú vào chuyện đòi đất, ban đầu về quy mô chưa lớn, nhưng về số vụ thì ngày càng nhiều. Ban đầu rải rác, nhưng càng về sau mật độ càng đậm đặc; đến mức, báo chí của đảng – dù bị cấm – vẫn không thể hoàn toàn câm lặng.

Nhờ thi đậu vào đại học, được sống ở Hà Nội, chúng tôi chứng kiến vụ nổi dậy đòi đất của giáo dân Thái Hà với quy mô hàng trăm ngàn lượt người tham gia, kéo dài nhiều tháng, với chiến thuật thay đổi rất linh hoạt, đẩy sự chống đỡ của Đảng vào thế ngày càng bị động. Tới nay, Đảng đã phải dùng tới những lời lẽ kiểu “đấu tranh giai cấp” trên báo chí để thoá mạ Dân. Vụ việc chưa dừng lại, mong các bạn theo dõi tiếp. Dù vậy, sự thắng bại cuối cùng tới nay chưa ngã ngũ.

Những trận đã ngã ngũ:

Nhiều trận chiến giữa Đảng và Dân đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Dân. Các thế hệ tiền bối nói rằng điều này là chưa từng có trong lịch sử cầm quyền của Đảng. Ví dụ, thời cải cách ruộng đất, Đảng đã diệt Dân trên quy mô toàn miền bắc (khi đất nước còn bị chia cắt). Nay đã khác. Thời thế đã đổi. Đảng đã mất cả Thời lẫn Thế. Khỏi nói: sẽ trở nên phản động và tàn bạo hơn bao giờ hết. Nhưng cũng do vậy Đảng sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, không thoát ra nổi.

Đang sống ở Hà Nội, chúng tôi chỉ nêu vài trận chiến, trong đó Dân thắng Đảng rất ngoạn mục, ngay giữa thủ đô. Các bạn sinh viên cả nước có thể dễ dàng theo dõi chi tiết trên các phương tiện thông tin (báo giấy, báo điện tử).
- Đó là trận giữ được con đường mang tên 19-12 không bị chiếm đoạt để bán cho tư nhân xây “trung tâm thương mại”.

- Đó là trận giữ được toàn vẹn công viên Hồ Bảy Mẫu không bị một công ty ngoại quốc chiếm dụng để xây khách sạn cao tầng (họ đang thi công móng), mặc dù một đại diện chính thức của chính quyền Hà Nội đã lớn tiếng biện bạch để... bịp Dân.

- Nay là trận bảo vệ được sân chơi Con Voi thoát khỏi sự chiếm đoạt của chính quyền quận Đống Đa định cho phe cánh xây CHỢ. Dấu hiệu Dân thắng Đảng ngày càng hiện rõ trong vụ này.

Dân đã dùng ngay “cái gậy” của Đảng để đập vào lưng Đảng. Đó là viện dẫn ra chính những quy định, những luật do Đảng ban hành. Từ chỗ những quy định, những luật để mị dân, hoặc để che dấu dã tâm, nay chúng trở thành vũ khí trong tay Dân. Đã đành, từ lâu Đảng không còn tin Dân nữa (ngược lại cũng vậy) nhưng từ nay Đảng cũng không thể nào tin vào nền báo chí của mình nữa. Các nhà báo, dù phải đứng trong đội ngũ, nhiều người vẫn còn lương tâm và cương trực. Trong ba ví dụ “Dân thắng Đảng” nói trên, không thể phủ nhận được vai trò của báo chí.

Còn đây mới là trận chiến quy mô toàn quốc:

Lẽ ra, trận Dân chống Tàu xâm lược có thể phát triển ra phạm vi lớn, nhưng tạm thời hiện nay Đảng đã thành công trong việc hạn chế quy mô. Dẫu vậy, ngòi nổ vẫn chưa được tháo. Nguy cơ mất nước thì toàn dân đủ nhạy cảm. Hãy chờ đấy !
Điều bất ngờ là trận chiến Dân - Đảng lại nổ lớn từ sự khai thác tài nguyên bô xit ở Tây Nguyên. Và đến nay, thật sự đã lan rất rộng, có thể nói là đã lan cả nước. Mặc dù báo chí đã được lệnh “không đưa tin”, nhưng từ bức thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp, rồi thư ngỏ của nhà văn Phạm Đình Trọng và nhà báo Lê Phú Khải, với sự góp sức của Dân VN ở hải ngoại, khiến các nhà khoa học và văn nghệ sĩ trong nước trực diện và quyết liệt nói lên tiếng nói độc lập của mình.

Đảng miễn cưỡng tổ chức một Hội nghị Khoa học để chịu trận ngồi nghe những phản biện rất minh chứng nhưng cũng đầy trách nhiệm và tinh thần xây dựng. Đảng đã có những bước lùi, mặc dù dùng quyền “kết luận hội nghị” phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vẫn có câu mở đầu “Khai thác bô xit Tây Nguyên là chủ trương đúng đắn; nhưng nội dung hội nghị lại ngược lại thế. Ngay cả vị đại diện các nhà khoa học trong Liên Hiệp các Hội Khoa Học VN vẫn nói: Dự án khai thác bô xít làm theo quy trình lộn ngược.

Chúng tôi không nêu những tư liệu cụ thể vì mọi sinh viên thừa trình độ tự khai thác đến những chi tiết nhỏ nhất.
Điều chúng tôi muốn nêu là trận chiến Dân - Đảng đã phát triển lên quy mô cả nước. Nếu Dân toàn thắng trận này thì cục diện sẽ có sự biến chuyển rất đột phá và mau lẹ khó lường.

Nhóm Sinh Viên Sư Phạm Hà Nội

Liên Hiệp Quốc Nghe Tường Trình Về Nhân Quyền Tại VN

Liên Hiệp Quốc Nghe Tường Trình Về Nhân Quyền Tại VN

Hội đồng Nhân quyền LHQ nhóm họp tại Genève, đang xem xét báo cáo về tình hình nhân quyền tại các nước trước khi đại diện mỗi nước trực tiếp phúc trình vào đầu tháng 5 sắp tới.
Có mặt tại chỗ, thông tín viên Ỷ Lan của Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do tường trình Đối Thoại Nhân Quyền như sau:

Mỗi 4 năm một lần, các quốc gia thành viên LHQ phải làm phúc trình trước Hội đồng Nhân quyền về tình trạng nhân quyền tại nước mình. Đây là thể thức mới, kể từ ngày Hội đồng Nhân quyền LHQ thay thế Ủy hội Nhân quyền vào năm 2006.

Thể thức này gọi là “Kiểm điểm thường kỳ toàn thế giới” hay UPR, Universal Perodic Review.

Tuy cuộc đối chất trực diện giữa Việt Nam, Hội đồng Nhân quyền LHQ và các quốc gia thành viên sẽ xẩy ra vào đầu tháng 5 sắp tới. Nhưng trên Trang nhà của LHQ đã đăng tải đầy đủ các phúc trình về Việt Nam.

Trước hết là bản phúc trình của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đệ nạp, song song với hai bản Phúc trình do Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ tóm gọn tất cả những khiếu nại hay tố cáo của các tổ chức Phi chính phủ về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, và của các cơ cấu LHQ liên quan đến quyền con người thông qua các phúc trình hay tố cáo gửi đến LHQ về những vi phạm nhân quyền trên các lĩnh vực xã hội, dân sự, tôn giáo, phụ nữ, trẻ em, v.v…

Ngoài ra trên Trang nhà LHQ cũng cho đăng toàn văn các Phúc trình của các tổ chức Phi chính phủ quan trọng trong thế giới, tố cáo những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, như Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền, Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, Ân Xá Quốc tế, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), v.v…

Hiện nay, kể từ ngày 2.3 cho đến 27.3, Hội đồng Nhân quyền LHQ họp khóa thứ 10 tại Điện Quốc liên ở Genève để xem xét tình hình nhân quyền trong thế giới.

Thực trạng Nhân quyền VN:

Tại khóa họp lần thứ 10 này, vấn đề nhân quyền tại Việt Nam vừa được đề cập hôm thứ hai, 23.3, qua lời phát biểu của ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam.

Ông Ái lên tiếng tố cáo nhà cầm quyền Hà Nội “vi phạm nghiêm trọng nhân quyền tại Việt Nam và thường xuyên không tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế”. Ông Ái nói rằng: “Chính sách Nhà nước Việt Nam không do các thiết chế quốc gia hoạch định, như là chính phủ hay quốc hội, mà mọi sự do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định” và rằng “Đảng Cộng sản bất cần mọi cam kết với thế giới”.

Ông Ái cũng nêu lên những phương pháp đàn áp cơ bản dựa vào sự kềm kẹp quần chúng thông qua ba cơ chế Công an khu vực, Hộ khẩu, và Lý lịch, gây sức ép trên những người bất đồng chính kiến làm cho họ mất tinh thần. Mục đích là bóp nghẹt mọi tư tưởng bất đồng với đảng và nhà nước.

Đây là trường hợp đã xẩy ra cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, bị giam cầm hơn 26 năm và hiện bị quản thúc tại ngôi chùa của ngài ở Saigon.

Các luật gia Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân bị xử án tù vì tổ chức các khóa học về nhân quyền; người chủ Blog Điếu Cày bị tuyên án 30 tháng tù vì viết những bài đòi hỏi cải cách dân chủ; giam cầm hoặc thu hồi thẻ làm báo của các ký giả phát hiện những sự việc “nhạy cảm”.

Ông Ái cũng nêu lên trường hợp của các người tham gia biểu tình, như Phạm Văn Trội, Phạm Thanh Nghiên, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh… bị bắt từ tháng 9.2008 nhưng chưa được xét xử.

Nhà cầm quyền còn đàn áp phong trào nông dân khiếu kiện gọi là Dân Oan chống lại việc cán bộ cướp đất, tài sản, hay đàn áp công nhân đình công đòi hỏi cải thiện đời sống và tiền lương vào lúc giá gạo tăng vọt 72% trong vòng một năm, hoặc đàn áp các cuộc biểu tình sinh viên và dân chúng chống việc mất đất, mất hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa vào tay Trung quốc.

Ngoài ra, ông Võ Văn Ái còn tố cáo Đảng và Nhà nước sử dụng các “đạo luật gian ác” để dập tắt mọi sự phản kháng hay bất đồng chính kiến.

Các đạo luật này trái chống với các quyền được bảo đảm trong Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị của LHQ hay trong Hiến pháp Việt Nam: như các đạo luật về “an ninh quốc gia”, nghị định số 38 cấm biểu tình, chỉ thị chống đình công.

Pháp lệnh số 44 quản chế tại gia người công dân hoặc đưa vào nhà thương điên mà không thông qua sự xét xử tại tòa án, cũng như những đạo luật vừa công bố hạn chế trên lĩnh vực báo chí, Internet và hạn chế việc thiết lập blog.

Ông Võ Văn Ái cũng tố cáo việc khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên có nguy cơ gây “đại nạn sinh thái”, mặc những lời báo động của các chuyên gia, những kiến nghị của dân cư địa phương, đặc biệt Thư ngỏ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu sách đánh giá lại việc quy hoạch khai thác bauxite trên Tây nguyên.

Đứng trước hiện trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng như thế, ông Võ Văn Ái kết luận lời phát biểu bằng việc yêu cầu Hội đồng Nhân quyền gây sức ép để nhà cầm quyền Việt Nam chấp nhận thường trực việc các “Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm bảo vệ những người đấu tranh cho nhân quyền, đặc nhiệm tự do ngôn luận và tự do tôn giáo viếng thăm Việt Nam”.


Ỷ Lan, thông tín viên RFA

Chết Mà Vẫn Sống

Chết Mà Vẫn Sống

* Năm 1975, VNCH bị bức tử. Ít lâu sau đó MTGPMN cũng tiêu vong, không kèn không trống, không Cáo phó, Thiệp tang gì cả. Rồi cái gọi là Lực lượng thứ 3 "thờ ma cộng sản" cũng thành phế thải.
* Lịch sử đã sang trang chăng? Không, lịch sử vẫn còn tiếp tục, và cuộc chiến của chúng ta vẫn chưa tàn. Bởi vì, ba mươi năm sau đó, VNCH vẫn " tồn tại " như một phép lạ, tồn tại mạnh mẽ trong lòng mỗi người lính, người dân, cả trong và ngoài nước. Chúng ta có ảo tưởng chăng? Không đâu. Đó là thực tế, một thực tế mà ngay chính những người cộng sản cũng không thể nào phủ nhận. Chẳng những không thể phủ nhận mà còn sợ hãi là đàng khác.

* Bạn thử nhìn cho kỷ xem. Những người dân oan đã và đang ngày nầy qua ngày khác đội đơn đi khiếu kiện khắp nơi, từ Sài gòn ra Hà nội, chịu đói, chịu khổ, dầm mưa dãi nắng, đó là những ai ? Tôi cam đoan là chẳng có một "phó thường dân Nam bộ" nào trong số đó cả. Họ, nếu không là cựu "bộ đội cụ hồ", cán bộ hưu trí, thì ít ra cũng là những bà mẹ chiến sĩ, bà mẹ anh hùng, thương binh, gia đình tử sĩ. Đi khiếu kiện, họ mang theo cờ đỏ, cờ búa liềm, và cả ảnh "Bác" nữa. Nhiều người trong số họ ngực mang đầy huân chương kháng chiến, huân chương "chống Mỹ cứu nước". Họ đều là ân nhân của Đảng cả đó. Vây mà khi bị Đảng đàn áp dã man thì họ kêu cứu với chúng ta, những người Việt hải ngoại, những người tị nạn CS, những người lính, người dân trung thành của chế độ VNCH, những người không chấp nhận chế độ CS.

-Xin hãy nghe một lời phát biểu của một bà mẹ, một dân oan: "Chúng nó (công an CS) còn tàn ác, dã man hơn cả cảnh sát của TT Nguyễn Văn Thiệu thời VNCH nữa". Câu hỏi đặt ra là:" Nếu những người dân oan đó vẫn coi chúng ta là "Mỹ-Ngụy", như họ đã từng gọi trước đây, liệu họ có cần tới chúng ta không? Xin đừng nói rằng họ nghĩ đến chúng ta chỉ vì chúng ta có hơi đồng...đô. Nói như vậy e rằng hơi có chỗ chưa biết bụng dạ dân miền Nam. Tôi chỉ muốn các bạn hiểu rằng người dân trong nước đã so sánh, và đã nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai chế độ. Cho nên họ đã kêu cứu với chúng ta, những người mà họ dư biết là đang đối đầu với cái đảng Mafia CS đang cai trị họ. Thêm một điểm nữa, họ biết chúng ta có cái miệng không bị bịt (như họ), có thể thay họ kêu to lên cho cả năm châu bốn biển đều nghe. Đó mới là nguyên nhân chính. Và chúng ta đã dang rộng vòng tay cứu giúp họ trong khả năng có thể của mình. Tại sao chúng ta làm vậy? Đơn giản là vì chúng ta không phải CS. Chúng ta biết quý trọng tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Chúng ta không cần biết trước kia họ theo ai, giúp ai. Máu chảy ruột mềm là vậy. Sự thực chúng ta đâu có xúi họ đi biểu tình. Mà làm sao xúi nỗi nếu như họ không bị cướp đất, cướp nhà, cướp của, oan khuất thấu trời xanh. Chúng ta cũng chưa bao giờ dám nói chế độ VNCH là "ưu việt", như CS vẫn huênh hoang về chế độ ác ôn của chúng. Nếu như họ thấy chế độ của chúng ta năm xưa còn tệ hại hơn cái chế độ "dân chủ gấp ngàn lần chế độ tư bản" thì họ dại gì cầu cứu chúng ta.

* Còn người CS, chúng thừa biết chúng ta không bao giờ, và cũng không thể xúi dục được ai, vậy tại sao chúng vẫn vu khống chúng ta? Lý do là vì chúng muốn trốn tránh trách nhiệm, tưởng như cứ đổ vấy cho "thế lực thù địch" bên ngoài là mọi chuyện đều xong, vừa phủi tay, vừa hù dọa cho người ta sợ, không dám chống đối nữa. Nhưng dân chúng bây giờ chẳng những không tin mà cũng không sợ nữa. Ngược lại, càng vu khống bao nhiêu, càng bộc lộ nỗi sợ hãi của chính chúng bấy nhiêu. Người CS sợ cái gì? Sợ VNCH sống lại trong lòng dân. Nhưng sợ cũng vô ích. Bởi vì gió đã đổi chiều.

* Một bạn đồng nghiệp cũ của tôi, nhờ có "lý lịch trong sạch", được cho tiếp tục dạy học sau năm 1975. Sau nhiều năm tận tụy, anh lên được chức Hiệu Phó chuyên môn. Làm Hiệu Phó hơn 10 năm trời không lên nổi Hiệu Trưởng. Bạn bè gọi đùa anh là Hiệu phó...muôn năm. Năm ngoái tôi có dịp tới thăm anh. Trong một lúc trà dư tửu hậu, anh ghé tai tôi nói nhỏ: "VNCH tuy đã chết mà vẫn sống''. Còn cái quái thai CHXHCN nầy tuy đang sống mà thực sự đã chết mất tiêu rồi". Hỏi tại sao nói vậy? Anh cười cười :"Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói: "đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn kỹ những gì CS làm." Không phải ông Thiệu chết rồi mà vẫn sống đó sao. Với người dân thì ông Thiệu với VNCH đâu có khác gì," Tôi không có dịp lê la các quán cà phê, quán nhậu...để kiểm chứng những lời anh nói. Nhưng có điều tôi biết chắc cái câu nói bất hủ trên đây có đầy dẫy trên các báo điện tử, các diễn đàn internet. Bạn cứ để ý mà xem.

- Khi nói VNCH vẫn sống, cả bạn tôi và tôi không ai mơ mộng viễn vong rằng một ngày nào đó chế độ VNCH sẽ lập lại trên đất nước VN. Không. Không ai có ảo tưởng như vậy. Nhưng, nói theo cụ Nguyễn Du, " thác là thể phách, còn là tinh anh". Vâng, cái "tinh anh" của VNCH cho tới nay vần còn nguyên vẹn. Cái tinh anh ấy chưa bao giờ chết trong lòng dân tộc chúng ta. Tôi chắc người CS cũng tin như vậy. Cho nên chúng đã cố gắng triền miên, không ngừng nghỉ từ hơn 30 năm nay để mong dìm cho chết cái tinh anh ấy. Chúng ra tay quét sạch tất cả mọi dấu vết liên quan đến chế độ VNCH: kéo sập tượng đài "Thương Tiếc", cào bằng nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nơi có mồ mả các nhân vật danh tiếng chế độ cũ), xóa sạch các nghĩa trang Quân đội VNCH...Chúng còn thò tay qua tới tận Indonesia, Malaysia đục bỏ các bia tưởng niệm thuyền nhân. Ngay cả cái di sản cuối cùng của VNCH là nghĩa trang QĐ Biên Hòa vừa qua cũng bị Nguyễn Tấn Dũng giao cho tỉnh Bình Dương, trong một mưu toan rất ma quái gọi là "dân sự hóa".

* Chúng muốn viết lại lịch sử theo ý chúng để cho nhân dân trong nước bây giờ và "muôn đời con cháu mai sau" không ai còn biết rằng đã từng có một Quốc gia Tự do mang tên VNCH tồn tại hơn 20 năm trên lãnh thổ VN từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau. Chúng muốn người dân nhìn nhận rằng ngoài cái chế độ XHCN "ưu việt" của chúng ra, không còn cái gì khác cả. Không VNCH, không cờ vàng ba sọc đỏ, không chiến tranh ý thức hệ, không Tết "Mậu Thân" Huế, không mùa hè đỏ lửa Quảng Trị, không thuyền nhân, không tị nạn..., không gì hết. Tất cả chỉ có duy nhất "Đảng CS quang vinh", chỉ có "chống Mỹ cứu nước", chỉ có "CNXH bách chiến bách thắng muôn năm"...

- Chúng muốn nhiều quá, tham lam quá, nên Trời không dung, Đất không tha, Người không thuận. Và chúng đã thất bại.
- Năm 1975, lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bị hạ xuống, bị lăng nhục. Ở trại tù Trảng Lớn, Tây ninh, chính mắt tôi đã từng đau lòng trông thấy bọn cán binh VC dùng lá cờ của chúng ta để may quần lót. Chúng muốn hạ nhục chúng ta đến tận cùng.
- Ngày nay, cờ vàng đã đứng dậy, ngạo nghễ tung bay khắp năm châu. Ở đâu có người Việt tị nạn, ở đó có cờ vàng. Bia thuyền nhân bị đục ở Mã lai, Nam Dương, lập tức lại mọc lên ở Úc châu, Âu châu, Bắc Mỹ. Còn phải kể thêm các Viện Bảo Tàng thuyền nhân ở Melbourne, Bảo Tàng Văn Hóa VN ở San Jose, California... Những người lính VNCH năm xưa thua trận bị tù đày, bị hành hạ, bị sỉ nhục, nay đã đứng lên, đã lại là người trên ngựa, tiếp tục cuộc chiến dỡ dang, trên mặt trận mới: mặt trân Dân chủ, Nhân quyền.

- NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN CỘNG SẢN, đó là vị trí đứng hiện tại của chúng ta. CỜ VÀNG là căn cước của chúng ta. Nhờ đứng vững ở vị trí nầy mà người CS không còn dám xem thường chúng ta. Chúng ta đã từ vị trí những người dưới ngựa, những công dân hạng hai, hạng ba, hạng bét; từ chổ bị coi như " ma cô dĩ điếm"...nay trở thành "khúc ruột xa ngàn dặm", trở thành "máu của máu VN", "thịt của thịt VN", và những người CS rồi đây sẽ còn phải tốn hao nhiều công sức, sáng tạo thêm bao nhiêu lời hay ý đẹp nữa để chiêu dụ chúng ta. Họ sẽ còn phải đẻ ra bao nhiêu nghị quyết 36, 360, hay 3600 nữa, bao nhiêu "Duyên Dáng Việt nam" nữa để hòng...ỏng ẹo với chúng ta.

* Hơn ba mươi năm từ ngày VNCH bị bức tử, cái tinh thần Tự do, Nhân bản của VNCH vẫn sáng chói trong lòng người Việt Nam, cả trong và ngoài nước. Nó đã, đang và sẽ là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho công cuộc đấu tranh vì Tự do, Dân chủ, Nhân quyền của hơn 85 triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta...cho đến ngày Thắng lợi cuối cùng. Không còn xa nữa !

Chiêu Dương