søndag 7. desember 2008

GỐC RỄ CỦA VẤN ĐỀ

GỐC RỄ CỦA VẤN ĐỀ

Từ khi lập quốc cho đến nay, cứ mỗi lần Trung Hoa thống nhất đất nước về một mối, hoặc một triều đại mới xuất hiện thì y như rằng vấn đề xâm lăng Việt Nam được họ đặt ra và tiến hành xâm lược. Và bất cứ triều đại mới nào của Việt Nam xuất hiện cũng bị Trung Hoa mè nheo, đòi quyền này, quyền nọ, chung qui cũng chỉ muốn nuốt chửng Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình lịch sử của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, Trung Hoa dù có hùng mạnh đến đâu cũng bị Việt Nam kháng cự mãnh liệt, bất cứ cuộc đô hộ nào rồi cũng phải cuốn gói về Tàu. Việt Nam tuy thắng nhưng cũng phải “xoa bóp” tự ái của Trung Hoa bằng triều cống để cho yên nước nhà. Nói cách khác Trung Hoa luôn nuôi mộng xâm lăng Việt Nam và Việt Nam vừa đánh vừa xoa. Việt Nam dân số thua xa Trung Hoa, đất đai Việt Nam nhỏ hẹp, nhưng nhờ lòng người dân đoàn kết và cương quyết chống xâm lăng, vì thế mà trải qua mấy chục thế kỷ, Việt Nam vẫn đứng vững. Tuy nhiên, từ khi Phong Trào Cộng Sản được khai sinh tại Nga và Hồ Chí Minh gia nhập đảng này, vấn đề Trung Hoa và Việt Nam đi vào một ngõ rẽ khác.
Cộng Sản Trung Hoa đã chiếm được toàn thể Hoa lục, đẩy Trưởng Giới Thạch ra Đài Loan thì lập tức quân đội Việt Cộng đang đánh với Pháp được tăng cường để cuối cùng, hầu như Trung Cộng lãnh đạo cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh mà trận Điện Biên Phủ là một vụ điển hình. Cuộc chiến xâm lăng miền Nam mà Việt Cộng đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” đã được Trung Cộng viện trợ tối đa. Bù lại, Trung Cộng được gì?
- Ngày 14 tháng 9 năm 1958, chỉ sau 10 ngày Trung Cộng đưa ra tiêu chuẩn lãnh hải mới, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã gởi cho Chu Ân Lai, Chủ tịch Quốc Vụ Viện Trung Cộng tức Thủ Tướng, chấp nhận quyết định của Trung Cộng. Văn bản này làm mất một số lớn mặt biển của Việt Nam mà sau này, Hoàng Sa và Trường Sa bị ảnh hưởng và đã bị Trung Cộng chiếm đóng sau khi đánh bật hải quân Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi đảo.
- Kể từ năm 1965, 300 ngàn quân Trung Cộng đã được Hồ Chí Minh “cho phép” chiếm đóng phía cực Bắc Việt Nam, với chiêu bài “làm hậu cứ để quân Việt Cộng rảnh tay yểm trợ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.”. Hãy tưởng tượng với 3 trăm ngàn quân của một nước đang có cuộc sống thấp nhất thế giới vào thời điểm đó, đóng chiếm miền Bắc họ sẽ tàn phá nơi chiếm đóng ra sao, và vì thế cuộc chiến năm 1979 đã có quá nhiều thuận lợi cho Trung Cộng.
- Năm 1946, khi Hồ Chí Minh mời Pháp lên Hà Nội, ông tuyên bố với thuộc hạ đại ý: dù có ăn cứt Pháp cũng còn hơn làm bạn với Tàu, nhưng sau đó, chính Hồ Chí Minh lại đánh Pháp và dĩ nhiên không làm bạn với Tàu nhưng lệ thuộc Tàu Cộng, bằng chứng là văn kiện dâng biển cho Trung Cộng nêu trên.
- Sau khi chiếm trọn miền Nam , Việt Cộng chung đường với Liên Sô, nhưng không có một sách lược đối đầu hữu hiệu với Trung Cộng, do đó, Trung Cộng đã thị uy bằng cách “cho Việt Nam một bài học”. Bài học này phía Việt Nam cho rằng họ đã chiến thắng, nhưng trên thực tế Việt Nam đã thua vì Trung Cộng, ngoài mục đích dằn mặt Việt Nam đã tàn phá 6 tỉnh cực bắc Việt Nam nặng nề, và khi rút lui vẫn giữ 6 cao điểm quân sự đang nằm trên đất Việt Nam. Sáu cao điểm quân sự này là ưu thế quân sự để Trung Cộng tấn công Việt Nam một cách dễ dàng. Nhiều cán bộ cao cấp của Việt Cộng lúc đó huênh hoang rằng nếu Trung Cộng xâm lăng Việt Nam chỉ cần giữ phòng tuyến được 3 giờ, Liên Xô sẽ can thiệp. Thực tế là Liên Xô không can thiệp.
- Hiệp ước Hoa Việt về biên giới đã bị Việt Cộng dấu kín, ngay cả quốc hội hay Ủy Ban Thường Trực Quốc Hội chỉ được “biểu quyết nhất trí thông qua” mà không được thắc mắc. Tuy nhiên, những địa danh Việt Nam như Suối Phi Khanh, Thác Bản Giốc v.v… nay đã được các hãng du lịch Trung Cộng quảng cáo và dẫn du khách đến xem. Điều này chứng tỏ Việt Cộng lại phải dâng cho Trung Cộng một số lãnh thổ của cha ông.
- Hiệp ước trên biển lại còn ngặt nghèo hơn. Ngoài 12 hải lý kể từ bờ trở ra, Việt Nam phải quy định một “vùng đánh cá chung” mà trên thực tế, ngư dân Việt Nam vào khu vực này liền bị Hải quân Trung Cộng bắn giết, bắt bớ tự do. Thảm trạng này đã xảy ra nhiều lần, mà lần nào Việt Cộng cũng tìm cách lấp liếm chứ không bao giờ đưa ra quốc tế.
Mấy tháng vừa qua, Trung Cộng đã sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào Hai Nam thành tỉnh Tam Sa.
Trong khi đó, các viên chức Việt Cộng liên tiếp qua Bắc Kinh để lãnh chỉ thị. Các chỉ thị đó ra sao không ai rõ, nhưng những ai đề cập đến biên giới Hoa Việt, những ai phản đối Trung Cộng xâm lăng dù với bằng cớ rõ ràng cũng bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp. Và trong những cuộc tiếp xúc với truyền thông bên ngoài, mỗi khi đề cập đến vấn đề biên giới, lãnh hải, cán viên chức Việt Cộng đều có thái độ không dứt khoát chứng tỏ Việt Cộng đã bị Trung Cộng khống chế hoàn toàn.
Cái nguy hại nhứt cho Việt Nam hiện nay là hầu hết Ủy Viên Bộ Chính Trị Việt Cộng đều là những kẻ thân Trung Cộng hay nói rõ hơn là Bộ Chính Trị VC là tay sai của Trung Cộng. Một đất nước mà ngoại bang đã nắm trọn những tên chóp bu như vậy dân tộc đó sẽ đi về đâu? Đó là câu hỏi mà người Việt hải ngoại cũng như quốc nội phải trả lời.
Từ khi Trung Cộng ngang nhiên sát phập Hoàng Sa và Trường Sa vào Hải Nam, đặc biệt từ khi văn kiện bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng được tiết lộ, đã có nhiều phần tử trong nước, nhất là sinh viên, học sinh và thanh niên, cũng như các nhà dân chủ đã chú trọng đến mục tiêu này, đưa vào ưu tiên một. Nhưng những sự chống đối này chưa được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, chưa có kế hoạch chính xác. Dĩ nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những sự hy sinh của họ, nhưng họ cần giúp đỡ rất nhiều.
Ở hải ngoại, các tổ chức, hội đoàn hoặc các nhân sĩ cũng đã mạnh mẽ lên tiếng phản đối, đã tổ chức nhiều buổi hội thảo, phân phát tài liệu v.v… nhất là sẵn sàng yểm trợ các phần tử chống đối Việt Cộng ở trong nước. Tuy nhiên, hải ngoại cần phải tạo dư luận, gây ảnh hưởng bằng cách phổ biến vấn đề trước các cơ quan quốc tế như Liên Hiệp Quốc, các quốc gia tự do dân chủ trên thế giới để tạo một luồng dư luận trên khắp thế giới, tích cực yểm trợ quốc nội về vấn đề này.
Tuy nhiên, gốc rễ của vấn đề này vẫn là làm sao triệt hạ những tên tay sai Trung Cộng nằm trong Bộ Chính Trị Việt Cộng. Nói cách khác phải lật đổ được độc tài Cộng Sản thì việc lấy lại lãnh hải và lãnh thổ mới thành công. Nói như thế không phải chúng ta chờ đến khi lật đổ được chế độ VC mới bắt đầu tính chuyện thâu hồi lãnh thổ lãnh hải. Nhưng nếu chúng ta không dứt điểm tận gốc thì rất khó để chúng ta thực hiện bất cứ một vấn đề gì ích quốc lợi dân trong giai đoạn này. Ngay cả vấn đề từ thiện mà hải ngoại thường rất hăng hái tham gia, nhưng còn Việt Cộng, thì những tổ chức từ thiện này không làm tay sai cho chúng thì phẩm vật, tiền bạc cũng khó mà đến được với nạn nhân, huống gì chuyện lấy lại lãnh thổ, lãnh hải!
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống xâm lăng, nhất là vấn đề xâm lăng của Trung Cộng lại càng nhạy cảm đối với các tầng lớp dân chúng. Sách lược chống Trung Cộng xâm lăng nếu được phổ biến sâu rộng sẽ được các tầng lớp dân chúng tham gia tích cực. Người trong một nước có đánh nhau, có nội chiến cũng còn hy vọng tồn tại chứ một khi mất đất thì mất tất cả. Dân Việt rất ý thức vấn đề này. Khai thác vấn đề này sẽ giúp các tầng lớp dân chúng ý thức trách nhiệm mà đứng lên đấu tranh trực diện với Việt Cộng.
Một số người hoặc vì nhẹ dạ, hoặc vì làm tay sai cho Việt Cộng mà đưa ra một “công thức”: hãy hợp tác với Việt Cộng chống Trung Cộng, rồi sau sẽ “hạ hồi phân giải”. Đây là luận điệu sai lầm. Việt Cộng không bao giờ dám chống Trung Cộng.
Gốc rễ của vấn đề tái chiếm lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam là phải lật đổ chế độ độc tài đảng trị Việt Cộng hiện nay.

Lê Văn Ấn

THỜI ĐẢNG TÀN, ĐÀI MẠT, NGHỊ GỤC !

THỜI ĐẢNG TÀN, ĐÀI MẠT, NGHỊ GỤC !

Xin thưa ngay,
*ĐẢNG đây là đảng VIỆT TÂN, thối thân của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, hiện nay do Bùi Minh Đoàn tức Lý Thái Hùng làm Tổng Bí Thư.
*ĐÀI đây là đài phát thanh Quê Hương do bà Đoan Trang làm Giám đốc và
*NGHỊ chính là bà Nghị viên “ăn cháo đái bát” Madison Nguyễn.
Không phải tới bây giờ mới có lời tiên đoán này mà ngay sau “đêm dài nhất” 20 tháng 11 năm 2007, khi NV Madison Nguyễn và Thị Trưởng Chuck Reed cùng một số nghị viên đã bằng “trò chơi dân chủ rừng rú” áp đặt ba chữ “SAIGON BUSINESS DISTRICT” cho khu thương mại trên đường Story, đa số báo chí Việt, Mỹ (chỉ trừ vài tờ báo gia nô) đã tiên đoán đây là HỒI CHUÔNG BÁO TỬ cho sự nghiệp chính trị của bà NV Madison Nguyễn. Lão Móc còn cả gan tiên đoán đây cũng là HỒI CHUÔNG BÁO TỬ cho sự nghiệp chính trị của đài phát thanh Quê Hương!
Bây giờ thì lời tiên đoán đã trở thành SỰ THẬT! Quyết định BẦU CỬ BÃI NHIỆM NGHỊ VIÊN MADISON NGUYỄN vào ngày 3 tháng 3 năm 2009 do Hội Đồng Thành Phố San Jose ban hành.
Về chuyện NGÀY TÀN của đảng Việt Tân thì không phải tới bây giờ mà ngay từ khi các cán bộ cao cấp của đảng này là bác sĩ Trần Xuân Ninh, luật sư Hoàng Cơ Long (anh của Hoàng Cơ Định) họp báo tuyên bố đảng Việt Tân hiện nay do Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hoàng Cơ Định lãnh đạo ĐÃ ĐI CHỆCH HƯỚNG tìm cách bắt tay hòa hợp hòa giải với đảng Việt Cộng để được “chia bàn, chia ghế” trong tương lai thì mọi người đã thấy rõ đảng Việt Tân đã làm một cuộc TỰ SÁT CHÍNH TRỊ TẬP THỂ! Chuyện rất dễ hiểu: đâu có ai tố cáo chồng của mình chính xác bằng người vợ. Cán bộ cao cấp của đảng công khai tố cáo là ĐẢNG VIỆT TÂN ĐI CHỆCH HƯỚNG thì còn chạy chối làm sao được.
Có điều hình như GIAN DỐI LÀ BẢN CHẤT BẨM SINH của các cán bộ Việt Tân thì phải. Chính luật sư Hoàng Duy Hùng khi chưa làm chuyện thô bỉ NHỔ RỒI LẠI LIẾM với đảng Việt Tân đã xuất bản tuyển tập LỘT MẶT NẠ MTQGTHGPVN với Lời Nói Đầu là “hai câu ca dao mới trong dân gian”:
“Việt Tân, Việt Cộng, Việt gian
Ba Việt cộng lại tan hoang nước nhà.”
Chính HDH đã viết về Việt Tân như sau: “… Xưa kia trong dân gian Việt Nam có câu “nói dối như Vẹm” để ám chỉ Việt Minh tức lớp vỏ bọc của CSVN, chuyên môn ăn gian nói dối lường gạt quần chúng trở thành một bản chất đi vào trong huyết quản mà ngay chính cả những thành viên của Việt Minh cũng còn không hay biết thì ngày nay có người ví von một câu “NÓI DỐI NHƯ VẸT” hay “NÓI DỐI NHƯ MẶT TRẬN” để thay cho câu “nói dối như Vẹm”. (Tuyển tập LMNMTQGTNGPVN, trang 4).
Như mọi người đều biết, trong đêm 4-3-2008, “anh hề chính trị” Hoàng Thế Dân (HTD) đã đưa chiếc “phone cầm tay” giữa cuộc họp của Hội Đồng Thành Phố và bịa chuyện là anh ta “đã nhận những lời hăm doạ giết chết” vì ai đó biết anh ta sẽ ra điều trần trước HÐTP với tư cách người của nhóm OUR VOICE.
Sau đó, qua Bản Thỏa Thuận ngày 13 tháng 3 năm 2008 của HĐTP chấp nhận cho treo các lá phướn và xây dựng cổng chào Little Sàigòn, trên tuần báo VIỆT NEWS, cơ quan tuyền truyền của đảng Việt Tân, “anh hề chính trị” HTD biến thành THẰNG CUỘI HTD khi trơ tráo bịa điều đặt chuyện một cách vô liêm sỉ là tự nhận anh ta và đảng Việt Tân có công trong việc tranh đấu VẬN ÐỘNG cho cổng chào Little Saigon, như sau:
“Sau đêm 20-11-2007 hố sâu ngăn cách càng ngày càng nở rộng. Sự xung đột quyền lực (nghị trường thành phố) và quyền lợi (đồng bào Việt tranh đấu cho LITTLE SAIGON) đã bùng vỡ qua hình thức biểu tình, bút chiến, khẩu chiến, rồi sau đó tuyệt thực, và thiếu hẳn nỗ lực hàn gắn.
Về khiếm khuyết này, trong vai trò đại diện Cộng đồng, chúng tôi đã nỗ lực liên lạc với nhiều đối tác hai bên, đề nghị, thảo luận hầu tìm một giải pháp chung. Cá nhân chúng tôi đã có những tiếp xúc với quý anh chị em trong Phong Trào Vận Động tên LITTLE SAIGON, quý vị trong cộng đồng, quý viên chức dân cử và một số nhân sĩ trong vùng để thảo luận về giải pháp ổn định cộng đồng. Nỗ lực này đã đưa đến kết quả là sự ra đời của bản Thông Cáo ngày 13 tháng 3 năm 2008, qua đó Hội Đồng Thành Phố chấp nhận cho xây cổng cào Little Saigon trên đường Story. Kết quả này cho thấy CHÚNG TÔI KHÔNG HỀ CHỐNG TÊN LITTLE SAIGON như một số lời đồn hay ngộ nhận, mà trái lại, đã cùng với quý vị bên Phong Trào vận Động tên Little Saigon mang chiến thắng về cho Cộng Đồng trong những giờ phút gay cấn nhất từ sau ngày 4 tháng 3 năm 2008, ngày mà HÐTP bỏ phiếu xếp lại hồ sơ vụ đặt tên cho khu phố Việt.”
Chưa hết! “Thằng cuội” HTD còn tận dụng sự gian xảo, nói dối trơ trẽn, lố bịch, bỉ ổi, khốn nạn hơn hẳn các “cán lớn” của đảng VT như Lý Thái Hùng, Nguyễn Trọng Việt, Hoàng Cơ Định khi trả lời câu hỏi: “Ngoài trách vụ chủ tịch Cộng đồng ông còn là đảng viên đảng Việt Tân. Có dư luận cho là ông và đảng Việt Tân đã VẬN ĐỘNG CHỐNG LẠI LITTLE SAIGÒN, điều này hư thực thế nào?” của phóng viên báo Việt News như sau: “Một phần câu trên, tôi đã trả lời cho quý vị thấy là TÔI VÀ ĐẢNG VIỆT TÂN KHÔNG NHỮNG KHÔNG CHỐNG VIỆC VẬN ĐỘNG TÊN LITTLE SAIGON MÀ CÒN TÌM GIẢI PHÁP BẢO VỆ NÓ. Tuy nhiên, sự kiện tôi công khai lên tiếng bất đồng ý kiến về một số hành xử thiếu xây dựng trong tiến trình vận động thì có. Nói cách khác, TÔI KHÔNG BAO GIỜ CHỐNG TÊN LITTLE SAIGON, chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ, và đảng Việt Tân cũng thế.”
Chuyện HTD nói dối một cách thô bỉ, trơ trẽn như trên xảy ra lúc anh ta và đồng bọn đang “tắm táp và phóng uế lên nhau trong cái AO VOI do ký giả gia nô Cao Sơn đào” – nói theo cách ví von của ký giả Hạnh Dương. Lúc đó tác giả Lý Vân Khanh có nêu lên ý kiến của một vị cao niên ví von chuyện “HTD có tên trong bản đồng thuận công nhận tên Little Saigon thì cũng giống như việc bắt một anh cán ngố cầm cờ vàng ba sọc đỏ đi biểu tình trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng ở Hoa Thịnh Đốn.”
Mới đây, trong“gánh hát chèo Silicon” của bà Nữ Hoàng “CHỐNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG” ĐOẠN TRƯỜNG (nickname mới do Lý Tống đặt cho bà Đoan Trang) người ta lại thấy “anh hề chính trị” HTD phụ trách chương trình “TIẾNG NÓI CỦA KHU VỰC 7”. HTD lại cùng với ông “Tiến sĩ, Bác sĩ, BỊNH BÚT” Phạm Lễ (chữ dùng của ký giả Hạnh Dương) kể lể “NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN” trong công cuộctranh đấu cho danh xưng Little Saigon tại San Jose . Trong cuộc phỏng vấn của Chương trình phát thanh Ủy Ban Bãi Nhiệm Nghị viên Madison Nguyễn, Tiến sĩ Đỗ Hùng là thành viên của ủy Ban Vận Động Chọn Tên Little Saigon, cũng là Phát ngôn viên của Phong Trào Cử Tri San Jose Đòi Dân Chủ đã có trả lời rất rõ ràng về “NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN” của hai ông HTD và Phạm Lễ (đã được đăng tải trên tuần báo Tiếng Dân số 337 phát hành ngày 28-11-2008). Chuyện ông Tiến sĩ, Bác Sĩ, Bịnh Bút Phạm Lễ NỔ SẢNG cho vui đời tỵ nạn không có gì đáng nói vì ở Hoa Kỳ chưa có luật ĐÁNH THUẾ NHỮNG NGƯỜI NỔ SẢNG! Ông “TS, BS, BB” Phạm Lễ chỉ bị dư luận coi thường về tư cách và nhân cách của CÁ NHÂN anh ta mà thôi. Với “anh hề chính trị” HTD của đảng Việt Tân thì lại khác. Không biết đảng Việt Tân đã hết người rồi hay sao mà lại đưa “anh hề chính trị” HTD ra để BƯNG BỢ, CHỐNG ĐỠ cho bà NV Madison Nguyễn. Chuyện đảng Việt Tân và bà Đoan Trang của đài Quê Hương là kẻ thù không đội trời chung trước đây đã phải làm chuyện ĐÃ NHỔ LẠI LIẾM đã là một chuyện vô cùng bỉ ổi. Đảng VT lại đưa “anh hề chính trị” HTD vào DIỄN TRÒ trong “gánh hát chèo Silicon” của bà “đào lẳng bẩm sinh” Đoạn Trường thì ai cũng thấy rõ SỐ PHẬN CHIẾC GHẾ QUYỀN LỰC Ở LẦU 18 của bà NV “ăn cháo đái bát” sẽ BỊ GIẬT SẬP TRONG CUỘC BẦU CỬ BÃI NHIỆM NGÀY 3-3 NĂM 2009 là cái chắc!
Ít ai nghĩ một cán bộ cao cấp của đảng VT như HTD lại có lập luận như một anh trộm trâu! Đúng là THỜI TÀN CỦA ĐẢNG VIỆT TÂN! Qua các màn tấu hài vô duyên của “anh hề chính trị” HTD mọi người mới thấy rõ vì sao đồng bào tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại đều xa lánh và khinh bỉ đảng Việt Tân. Ai đời một đảng viên cao cấp của đảng Việt Tân, lại là Chủ Tịch của Ban Đại Diện CĐ NGƯỜI VIỆT/BC như Hoàng Thế Dân lại ra sức “bưng, bợ” bà NV “ăn cháo đái bát” một cách thô bỉ bằng cách LẬP LUẬN MỘT CÁCH NGU XUẨN XÚC PHẠM ĐẾN NGUYỆN VỌNG CỦA ĐA SỐ CỬ TRI NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT THUỘC KHU VỰC 7 SAN JOSE BẰNG CÁCH CHO RẰNG HỌ RECALL MADISON NGUYỄN ĐỂ DÂNG GHẾ NGHỊ VIÊN KHU VỰC 7 CHO NGƯỜI MỄ NHƯ KIỂU CSVN DÂNG HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CHO TRUNG CỘNG.
Không ai trách ông “Tiến sĩ, Bác sĩ, Bịnh Bút” Phạm Lễ lập luận một cách hồ đồ và chụp mũ như thế - nói theo cách nói của ký giả Hạnh Dương trong một bài viết dài khoảng 20 trang viết về “thành tích lẫy lừng” của “Tiến sĩ, Bác sĩ, Bịnh Bút” Phạm Lễ. Nhưng “anh hề chính trị” HTD thì lại khác!
Không biết là đảng VT đã hết người rồi hay sao lại đưa HTD ra để KỂ LỂ VỀ TỘI ÁC CỦA ĐẢNG VIỆT TÂN! Nghe “anh hề chính trị” HTD “kết tội” Ủy Ban Bãi Nhiệm NV Madison Nguyễn” là “ĐÃ LÀM CHO BÀ NV NÀY ĐAU KHỔ SUỐT 14 THÁNG QUA” mà ngán ngẩm cho cái đầu óc bệnh hoạn của anh ta. Qua cách lập luận “quái đản” này, mọi người mới thấy rõ là CHÍNH HTD ĐÃ “TỐ KHỔ” CHÍNH CÁI ĐẢNG VIỆT TÂN MÀ ANH TA LÀ MỘT CÁN BỘ CAO CẤP!
Chuyện cộng đồng người Mỹ gốc Việt và Ủy Ban Bãi Nhiệm NV Madison Nguyễn xúc tiến việc bãi nhiệm NV Madison Nguyễn vì bà này là một nghị viên bất xứng, không phục vụ cho quyền lợi của cử tri Khu vực 7 lại đi phục vụ một thiểu số tài phiệt là một việc làm thiên kinh, địa nghĩa, một việc làm mà hiến pháp của HĐTP cho phép làm. Sao lại CÓ KẺ LỘNG NGÔN NHƯ HOÀNG THẾ DÂN đi kết tội những công dân Hoa Kỳ thực hiện những điều mà luật pháp cho phép LÀ NHỮNG KẺ LÀM ĐIỀU ÁC?!
Trong khi đó, chính đảng Việt Tân của ông HTD mới là NHỮNG KẺ ĐÃ LÀM NHỮNG VIỆC LÀM TÀN ÁC là BẮT LÃNH TỤ CỦA MÌNH LÀ ĐỀ ĐỐC HOÀNG CƠ MINH PHẢI TIẾP TỤC SỐNG 14 NĂM DÙ RẰNG ÔNG ĐÃ CHẾT. Người chết thì cũng đã chết NHƯNG CÒN VỢ CON CỦA ÔNG TA THÌ SAO? Một cán bộ cao cấp của đảng Việt Tân là ông Hoàng Cơ Định là EM RUỘT của Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ĐÃ ĐỐI XỬ VÔ CÙNG TÀN ÁC VỚI VONG HỒN CỦA ANH RUỘT CỦA MÌNH, với chị dâu và các cháu của mình thì thử hỏi KHI ĐẢNG VIỆT TÂN CỦA CÁC ÔNG LÊN CẦM QUYỀN CÁC ÔNG SẼ ĐỐI XỬ VỚI DÂN CHÚNG RA SAO?
Đề nghị với “anh hề chính trị” HTD không nên vì nhu cầu BƯNG BỢ bà NV Madison mà lại đi lập luận một cách hồ đồ, chụp mũ cho đa số cử tri người Mỹ gốc Việt khu vực 7 thành phố San Jose như thế. Chính cái lối lập luận hồ đồ, ngu xuẩn đó đã BÁO HIỆU NGÀY TÀN CỦA ĐẢNG VIỆT TÂN! Chính việc làm của HTD TRONG VỤ BƯNG BỢ NV MADISON cho thấy đảng Việt Tân đã tới hồi TÀN MẠT.
*
Ông bà Đoan Trang, Nguyên Khôi đã phải ngậm câm miệng hến vì những lời tố cáo NHẬN TIỀN CỦA TÌNH BÁO VIỆT CỘNG LÀ “ÔNG KHÁNH” của nhà tranh đấu Nguyễn Thị Ngọc Hạnh trong quyển tự truyện THẾ LỰC ĐEN đã phải quay qua gỡ gạc Nguyễn Ngọc Tiên, Kiêm Ái và Nguyễn Thiếu Nhẫn một cách vô duyên là kết tội chúng tôi là “TRẢ THÙ HÈN HẠ” vì hai ông bà này không chiụ nghe theo chúng tôi chụp mũ người khác là Việt Cộng”. Bịa điều, đặt chuyện một cách trơ trẽn, lố bịch như thế thì đài phát thanh Quê Hương đã TỚI HỒI TÀN MẠT là phải quá rồi!
Hết mượn lời của ông Lee Cai, dealer của Honda Anderson, để biạ điều, đặt chuyện là ông Chủ Tịch Cộng Đồng Nguyễn Ngọc Tiên vô ơn đến mượn chuyện Billboard linh mục Nguyễn Văn Lý để đánh phá ông Nguyễn Ngọc Tiên, bị ông này thách thức ON AIR không dám nhận lời đành phải phải sang bịa điều, đặt chuyện vu cáo, mạ lỵ Kiêm Ái và Nguyễn Thiếu Nhẫn, bị chúng tôi thách thức mở DIỄN ĐÀN CÔNG LUẬN đành phải trở thành THỊ HẾN!
Khi HĐTP công bố sẽ tổ chức BẦU CỬ BÃI NHIỆM NV MADISON NGUYỄN vào ngày 3-3-2009, hai ông bà Đoan Trang, Hoàng Thế Dân lại phải giở trò “MỒM THỊ HẾN, LƯỠI THẾ DÂN’ để RA SỨC BƯNG BỢ BÀ NV MADIOSN NGUYỄN thì đúng là đã TỚI THỜI TÀN MẠT của đài Quê Hương!
Nghe mấy ông bà BỒI THẦN “tấu hài” trong gánh hát chèo silicon của “bà bầu” ĐOẠN TRƯỜNG nghe vui lắm.
Không vui sao được khi nghe ông “Tiến sĩ, Bác sĩ, Bịnh Bút” writer Phạm Lễ khoe là “khi nghị viên Sam Liccardo còn lưỡng lự thì TÔI ĐÃ ĐẬP XUỐNG BÀN và bảo rằng cho ông nghị viên này trong 3 phút phải YES or NO về cái tên Little Saigon.”
Không vui sao được khi nghe một bà nào đó rền rĩ là đồng bào không nên bãi nhiệm NV Madison Nguyễn vì nếu bãi nhiệm bà này thì “Cộng Đồng của bà ĐT và ông HTD sẽ BỊ MỒ CÔI”. Không vui sao được khi nghe một ông Sạc-lô, Sạc-ly nào đó “phát” ra những lời cứ như là… bố của con chó xồm! Ông này thì tấu hài…“dzui” hết biết. Tài bịa điều, đặt chuyện hơn hẳn Đoan Trang, Nguyên Khôi và Hoàng Thế Dân. Ông ta “khoe” là ông ta không phải cử tri khu vực 7 (cũng giống như ông HTD), ông ta khoe là ở tận San Mateo , Matóp gì lận. Khi ông ta gia nhập “gánh hát chèo Silicon” của bà Đoạn Trường thì có người bạn hỏi là bà Madison “MUA” ông ta bao nhiêu, và ông ta có MẶC ÁO GIÁP hay không? Lập luận của ông Sạc-lô này thì cũng chỉ là “nhai lại” các trò vu cáo “bị dọa giết qua điện thoại” của HTD và chuyện bà “đào lẳng bẩm sinh” Đoạn Trường họp báo nước mắt, nước mũi tèm lem đưa lên “cây đinh cong cong dài một tấc” mà thôi. Sở dĩ nói là ông “sạc-lô” này tấu hài rất “dzui” là vì ông ta bảo là ông ta trả lời người bạn là: “BÀ MADISON KHÔNG CÓ ĐỦ TIỀN ĐỂ “MUA” TUI ĐÂU”. Còn một câu nữa mà ông ta chưa kịp nói đã bị HTD cắt ngang. Đó là câu: “BÀ MADISON CHỈ ĐỦ TIỀN ĐỂ “MƯỚN” TUI QUẬY PHÁ CỘNG ĐỒNG CHO NỔI BÈO, NỔI BỌT TRONG VÀI THÁNG MÀ THÔI!”
Không vui sao được khi nghe một anh “kép lão” trong “gánh hát chèo Silicon” của bà bầu Đoạn Trường rền rĩ: “Mấy ông ủy Ban Bãi Nhiệm ơi, mấy ông đừng có BÓC LỘT TIỀN CỦA ĐỒNG BÀO TUI trong thời buổi kinh tế suy thoái này, mấy ông ui! Tôi mới bán được đợt I có hơn ngàn tickets lấy tiền trả nợ, còn lại hơn bốn ngàn chưa kịp ON SALE ”.
Đúng là “anh hề chính trị” HTD “vì ăn cơm của bà Madison mà hại đảng Việt Tân”. Cái anh “kép lão” mà HTD thuê mướn vì “mót” bưng bợ bà NV Madison mà đã nhè ngay việc làm LỪA BỊP ĐỒNG BÀO HẢI NGOẠI MẤY CHỤC TRIỆU MỸ KIM để mở tiệm bán phở và mua tàu đánh cá của đảng Việt Tân mà tố cáo!
*
Đảng Việt Tân đã tới ngày TÀN nên đã để “anh hề chính trị” HTD gia nhập “gánh hát chèo” của bà bầu Đoạn Trường.
Đài phát thanh Quê Hương đã tới thời MẠT vận nên đã diễn tuồng “MỒM THỊ HẾN, LƯỠI THẾ DÂN” với các đào kép “không chuyên” vốn xuất thân từ bọn BỒI THẦN!
Chiếc ghế quyền lực của bà NV “ăn cháo, đái bát” Madison Nguyễn ở lầu 18 của Tòa Thị Chính đã mất một chân, phải nhờ các ông bà HTD, ĐT, Nguyên Khôi và bọn “bồi thần” chen nhau mà chống đỡ, chắc chắn SẼ BỊ CỬ TRI KHU VỰC 7 GIẬT SẬP trong cuộc “bầu cử bãi nhiệm” trong ngày 3-3 năm 2009.
Điều quả quyết của Tiến sĩ Lê Hữu Phú chắc chắn sẽ trở thành sự thật!

LÃO MÓC

lørdag 6. desember 2008

Tội Ác Cộng Sản Việt Nam

Tội Ác Cộng Sản Việt Nam về biến cố Tết Mậu Thân 1968
xin mời quí vị vào xem:

http://video.google.com/videoplay?docid=-7850863308685754563

Những Năm Tháng Ðen Tối

Những Năm Tháng Ðen Tối.

Là những người Việt Nam, chúng ta hãy nhớ lại biến cố đau thương tháng Tư đen 1975 của dân tộc. Sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, mọi người đều hốt hoảng sợ hãi, vì những gì đen tối nhất đang đổ ập trên cuộc đời chúng ta. Không gia đình nào mà không có người phải đi vào ngục tù cải tạo hoặc bị cưỡng bách đến định cư tại vùng kinh tế mới! Chính trong những năm tháng đen tối ấy, hàng đoàn người đã bỏ lại tất cả để vợt biên với hy vọng lập nghiệp tại vùng đất mới.

Hàng trăm ngàn người đã mất tích trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập. Những lúc lênh đênh trên Biển Đông hoặc băng rừng vượt suối, đối với mọi người được đến định cư tại Hoa Kỳ là một may mắn đặc biệt như đến Miền Đất Hứa trong Cựu Ước của Kinh Thánh.

Ngài xử dụng để mang lại thiện hảo cho ta, phương chi vấn đề định cư của gần một triệu người Việt tại miền đất Hoa Kỳ tự do dân chủ này. Sự hiện diện đông đảo này dĩ nhiên đối với Thượng Đế đã được đi vào kế hoạch khôi phục Quê Hương Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Mỗi khi giao tiếp với người khác, một trong những tâm tình cao quý mà bất cứ ai trong chúng ta cũng quý mến trân trọng: Đó là tâm tình biết ơn. Biết ơn là bộc lộ tâm tình tri ân với vị ân nhân về những điều tốt lành mà mình đã lãnh nhận. Những điều tốt lành ấy gồm nhiều hình thức: Một cử chỉ thân ái, một lời khích lệ, một món quà tặng, một hành động nâng đỡ tinh thần hay vật chất, một hồng ân của Thượng Đế. Mỗi tặng vật luôn gói ghém một giá trị tinh thần. Nó là biểu tượng của Tình Thương. Nó mang ý nghĩa của sự cho đi phần nào chính bản thân ngời tặng.

Thông thường những tâm tình biết ơn được thể hiện qua ngôn ngữ, cử chỉ và hành động. Biết ơn là một hành động văn minh cao quý chứng tỏ con ngời có giáo dục. Biết ơn là một cử chỉ lịch thiệp thể hiện sự kính trọng người khác, đặc biệt người ấy lại là vị ân nhân của mình. Vị ân nhân có khi không cần người thụ ân cám ơn. Nhưng bổn phận người mang ơn luôn luôn phải bày tỏ lòng biết ơn. Đó là quy luật và nguyên tắc xử thế trong cuộc sống.

Trái lại, không gì xấu hổ, đáng chê trách bằng thái độ vô ơn của những người vô giáo dục, chỉ biết nhìn cái lợi trước mặt mà quên nhiệm vụ biết ơn của mình. Hàng năm cứ vào cuối tháng 11 dương lịch, mọi người khắp nơi trên đất Mỹ đều hân hoan chào đón ngày Đại Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day). Đây là một Đại Lễ quan trọng mang nhiều ý nghĩa, được nhân dân Hoa Kỳ mừng trọng thể nhất mỗi năm. Đây là một Đại Lễ Đặc Biệt nói lên nét văn hóa của một dân tộc văn minh tiến bộ. Đây cũng là một Đại Lễ mang tính Truyền Thống Lịch Sử của nhân dân Hoa Kỳ, kỷ niệm ngày tổ tiên họ dâng lên Thượng Đế những tâm tình biết ơn sâu xa, khi bắt đầu đến định cư tại miền Đất Hứa này.

VÀI NÉT LỊCH SỬ NGUỒN GỐC ĐẠI LỄ TẠ ƠN

Nói về nguồn gốc lịch sử Đại Lễ Tạ Ơn, sử gia Robert J. Myers viết trong tác phẩm Celebrations: Cách đây trên ba thế kỷ, năm 1620, một nhóm người Anh thuộc Giáo phái ly khai Pilgrim đã quyết định dời bỏ quê hương, đi tìm định cư trên một vung đất mới để được tự do tôn giáo. Đoàn người lữ hành này gồm 101 người và 48 thủy thủ đã khởi hành ngày 16 tháng 9, 1620 trong một đêm mùa đông giá lạnh. Nhóm người viễn du hải hành mạo hiểm này đã kéo buồm dời hải cung Plymouth, Anh quốc, trên một con tàu nhỏ mang tên Mayflower, nay đã trở thành danh xưng gắn liền với lịch sử dân tộc Mỹ.

Sau gần hai tháng lênh đênh trên biển cả, họ đã đặt chân đến bờ biển hoang vắng thuộc Vùng Cod (Cap Cod National Seashore), tiểu bang Massachusetts ngày 9 tháng 11, 1620. Thời gian ấy, miền đất mới này chỉ là một vùng hoang sơ, màu mỡ phì nhiêu nhưng chưa khai thác, do những bộ tộc người Da Đỏ chiếm lãnh. Thời gian đầu, họ đã phải trải qua một mùa đông lạnh lẽo tại nơi đây. Lương thực cạn dần. Mùa trồng tỉa chưa bắt đầu. Đói rét, bệnh tật đã làm nhiều người ngã bệnh và qua đời! Đời sống cơ cực nhọc nhằn kéo dài, nhưng trong thâm tâm họ vẫn tin tưởng rằng chính Thượng Đế là Người đã hướng dẫn họ đến vùng Đất Hứa này.

Sau đó nhóm di dân mới được những người bộ tộc Da Đỏ dạy cách sinh sống nơi miền đất lạ như trồng tỉa các loại hoa màu đậu bắp, khoai tây, chăn nuôi gia cầm hoặc vào rừng săn bắn thú ... Không bao lâu với ruộng đồng màu mỡ phì nhiêu cộng sức lao động cần cù, họ đã thu hoạch được những vụ mùa bội thu, nhất là vào năm 1621, chỉ sau một năm đến định cư tại nơi đây. Với họ, vùng đất mới Bắc Mỹ này đã thực sự trở thành “Đất Hứa" khác nào Thượng Đế đã dẫn dắt dân tộc Do Thái xa kia đen miền đất phì nhiêu của “sữa và mật ong" trong Kinh Thánh.
Họ quyết định tổ chức những Ngày Lễ Hội Lớn để Tạ Ơn Thượng Đế. Họ mời nhau dự tiệc với những trái cây, những chú gà tây truyền thống và những buổi liên hoan khiêu vũ. Để thể hiện những tâm tình biết ơn, họ lựa chọn những trái cây tốt tươi, những súc vật béo tốt dâng lên Thượng Đế

Theo sử gia Robert J. Myers, Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức năm 1621 tại Thành phố Plymouth, tiểu bang Massachusetts, kéo dài trong ba ngày, với duyệt binh, pháo bông và thao diễn quân sự. Tiếp theo là những bữa tiệc liên hoan, khiêu vũ, ca hát của những người di dân mới với những bộ tộc Da Đỏ. Những Đại Lễ Tạ Ơn Truyền Thống chỉ được chính thức thành lập sau đó 168 năm (1789 - 1621) dưới thời cố Tổng Thống George Washington (1732 - 1799). Ông được nhân dân Hoa Kỳ kính trọng và mến mộ như vị Cha Già của Dân Tộc, vì đã có công sáng lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Có thể nói, tất cả ý nghĩa trọng đại của Ngày Đại Lễ Tạ Ơn mà nhân dân Hoa Kỳ long trọng tổ chức bao đời nay, đã được công khai biểu lộ qua những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington vào năm 1789 sau đây:

“Kể từ nay, tôi đã quyết định và lựa chọn ngày thứ Năm trong tuần lễ thứ Tư tháng 11 dương lịch hàng năm, để toàn thể nhân dân Hoa Kỳ, thuộc các tiểu bang, Dâng hiến, Phụng thờ và Tạ Ơn Thượng Đế Tối Cao. Chính Ngài là vị Đại ân Nhân của dân tộc ta. Chính Ngài là Đấng đã ban muôn điều tốt lành mà chúng ta đã có, đang có và sẽ có.
Vì thế chúng ta hãy đồng tâm nhất trí dâng lên Thượng Đế tất cả tấm lòng tri ân chân thành của nhân dân ta. Nhờ sự bảo trợ và quan phòng của Ngài mà tổ tiên chúng ta đã đến được miền đất mới này, từ ngày khởi đầu cho đến ngày 'lập quốc Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì đất nước đã được thanh bình sau những ngày chinh chiến.
Và hiện nay nhân dân đang được sống an bình trong một chế độ có hiến pháp và chính phủ, để duy trì hạnh phúc cho mọi người dân. Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì sự tự do tôn giáo và nhân quyền đã được Ngài chúc phúc và bảo vệ. Sau cùng chúng ta hãy Tạ Ơn Thượng Đế vì muôn vàn ơn lành Ngài đã ban cho dân tộc chúng ta.”

NGHĨ VỀ ĐẠI LỄ TẠ ƠN VÀ TÂM TÌNH BIẾT ƠN

Hàng năm mỗi lần nhân dân Hoa Kỳ hân hoan mừng Đại Lễ Tạ Ơn, thiết tưởng là một dịp thuận tiện để mọi người Việt Nam định cư tại đây, nhận định lại nhiệm vụ đối với đất nước mà chúng ta đang sinh sống cũng như cuộc sống chính mình. Từ Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được chính thức thành lập đến nay, hàng năm nhân dân Hoa kỳ không bao giờ quên nhiệm vụ cảm tạ Thợng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến lập nghiệp tại Miền Đất Hứa trù phú phì nhiêu này.
Tâm tình biết ơn Thượng Đế được công khai xác nhận trong một ngày Đại Lễ Quốc Gia phải chăng đó là một nét văn hóa đặc biệt, một truyền thống cao quý của nhân dân Hoa Kỳ. Vì có biết ơn Thượng Đế, con người mới biết ơn và làm ơn cho nhau. Có biết Tạ Ơn Trời, con người mới biết Tạ Ơn Người.
Ngày nay đọc lại những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington trong ngày Đại lễ Tạ Ơn đầu tiên năm 1789, cách đây 209 năm, có lẽ không ai trong chúng ta không cảm phục và ngưỡng mộ sự cao cả trong tư tưởng của ông. Phải, chính những tư tưởng xuất chúng ấy đã trở thành nền tảng căn bản cho đời sống tự do dân chủ và lòng hào hiệp của họ.
Chính những nhận định xác đáng về vị trí của họ với Thượng Đế, với tổ tiên, với mọi người, đã làm cho đất nước Hoa Kỳ trở thành một quốc gia hiếu khách đón tiếp mọi sắc dân, mọi chủng tộc đến lập nghiệp tại đây Thượng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến đây, thì ngày nay đến lượt họ cũng mở rộng vòng tay đón tiếp các dân tộc khác.

Do đó ngày nay không có một quốc gia nào, mà người dân trên khắp thế giới mong muốn đọc đến định cư bằng đất nước Hoa Kỳ. Không có quốc gia nào mà nền Dân Chủ Tự Do đã trở thành khuôn mẫu cho các nơi khác noi theo bằng chính thể Dân Chủ Hoa Kỳ. Phải chăng chính tâm tình biết ơn đã trở thành nền tảng xử thế cho đời sống của người dân trong khi giao tiếp với người khác.
Là những người Việt Nam, chúng ta hãy nhớ lại biến cố đau thương tháng Tư đen 1975 của dân tộc. Sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, mọi người đều hốt hoảng sợ hãi, vì những gì đen tối nhất đang đổ ập trên cuộc đời chúng ta. Không gia đình nào mà không có người phải đi vào ngục tù cải tạo hoặc bị cưỡng bách đến định cư tại vùng kinh tế mới! Chính trong những năm tháng đen tối ấy, hàng đoàn người đã bỏ lại tất cả để vợt biên với hy vọng lập nghiệp tại vùng đất mới.
Hàng trăm ngàn người đã mất tích trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập. Những lúc lênh đênh trên Biển Đông hoặc băng rừng vượt suối, đối với mọi người được đến định cư tại Hoa Kỳ là một may mắn đặc biệt như đến Miền Đất Hứa trong Cựu Ước của Kinh Thánh. Thảng hoặc đến định cư tại quốc gia này theo các chng trình HO, ODP, Con Lai, chúng ta khác nào những tổ tiên của nhân dân Hoa Kỳ trước đây được Thượng Đế quan phòng hướng dẫn đến miền đất mới này.

Giờ đây nhìn lại cuộc sống hiện tại, nhiều người không thể ngờ rằng, họ đã có tất cả những gì mà trước đây không bao giờ dám mơ ước. Đa số người Việt tại Hoa Kỳ đã có công ăn việc làm, nhà cửa, xe cộ, con cái khôn lớn thành đạt, hơn gấp nhiều lần trước đây tại quê nhà. Nhưng có bao giờ chúng ta biết cảm tạ Thượng Đế như nhân dân Hoa Kỳ hàng năm mừng Đại Lễ Tạ Ơn không ? Có bao giờ chúng ta nhớ đến ngày đầu tiên đặt chân trên đất Mỹ để Tạ Ơn Thượng Đế, đồng thời cám ơn những vị ân nhân đã giúp đỡ mình trong những ngày đầu tiên bỡ ngỡ tại miền đất lạ này?
Nếu có người nào nghĩ rằng họ không mang ơn ai, đặc biệt với Thượng Đế, thì đó là một lỗi lầm lớn, vì đời sống mỗi người đều có những liên đới chập chùng. Trong cuộc sống mỗi người, chúng ta thường chẳng cho đi bao nhiêu nhưng đã nhận lãnh quá nhiều. Nếu một ngày nào đó, đời ta không còn nhận được những sự cộng tác, những yêu thương, những giúp đỡ, những cung cấp phương tiện của bao người khác, lập tức ta sẽ trở thành bơ vơ, nghèo nàn, khốn khổ biết bao!
Từ vật chất đến tinh thần, cuộc đời mỗi người đều được xây dựng bằng biết bao công ơn đóng góp của bao người, nhất là sự quan phòng và bao hồng ân của Thượng Đế Tiền bạc, quà tặng, ta có thể trả. Nhưng những ân tình thương mến làm sao có thể đáp đền? Những mồ hôi nước mắt, những tận tâm của bao người, mà chúng ta chia sẻ cho nhau đều là những tặng vật thiêng liêng cao quý. Chưa chắc ta đã hiểu rõ được giá trị xác đáng những hồng ân đó nói chi đền trả cho đủ!

Trong ngày Đại Lễ Tạ Ơn, không gì ý nghĩa và đáng khích lệ, nếu các Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ tổ chức những buổi gặp gỡ, những cuộc liên hoan, để củng cố tình thương, xây dựng sự đoàn kết thương cảm giữa những đồng bào ruột thịt, đặc biệt với những đồng bào mới đến định cư, ngay cả với những cộng đồng thiểu số khác và nhân dân địa phương. Càng nhiều sinh hoạt tương trợ, chúng ta càng làm cho ý nghĩa ngày Đại Lễ Tạ Ơn càng phong phú .
Thượng Đế yêu thương chúng ta. Phải chăng đó là điệp khúc mà mỗi chúng ta hãy lập lại trong từng giây phút của cuộc sống, nhất là khi nhìn lại bao hồng ân Ngài đã ban. Mỗi chúng ta đều có một chương trình đặc biệt trong sự Quan Phòng của Ngài. Đối với Ngài, không có đám đông vô danh, không có những con số như những người tù Đức Quốc Xã hay tù Việt cộng! Ngài gọi mỗi chúng ta bằng một tên gọi riêng. Mỗi người chúng ta đều có một giá trị không thể thay thế được đối với chương trình của Ngài. Ta không thể đo lường Tình Yêu của Thợng Đế bằng thước đo hẹp hòi là trí óc bé nhỏ của ta !!

Thượng Đế cũng không tạo dựng con người theo một khuôn mẫu chung như những cơ phận trong một cỗ máy, được sản xuất theo hệ thống dây chuyền, mà theo chương trình riêng cho mỗi người. Mọi biến cố vui buồn lớn nhỏ đều được Ngài xử dụng để mang lại thiện hảo cho ta, phương chi vấn đề định cư của gần một triệu người Việt tại miền đất Hoa Kỳ tự do dân chủ này. Sự hiện diện đông đảo này dĩ nhiên đối với Thượng Đế đã được đi vào kế hoạch khôi phục Quê Hương Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Tất cả đều mang Dấu Ấn Tình Yêu của Thượng Đế. Tất cả đều là Hồng Ân của Ngài, nếu ta so sánh cuộc sống chúng ta với đồng bào ruột thịt trong nước đang sống trong thiếu thốn tất cả! Vậy còn gì thiết thực và xác đáng bằng tâm tình biết ơn mà mỗi người chúng ta dâng lên Thượng Đế trong Ngày Đại Lễ Tạ Ơn này.

Và phải chăng Ngày Đại Lễ Tạ Ơn là ngày mà chúng ta hãy Tạ Ơn Trời và Tạ Ơn Người.

Linh Mục Trần Quý Thiện

Chủ Nghĩa Hình Thức

Chủ Nghĩa Hình Thức.


Chắc hẳn mọi người còn nhớ việc trình diễn nhép miệng trong buổi lễ khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008. Cô bé Yang Peiyi, 7 tuổi, dù có giọng hát trong vắt như pha lê, đã không được cho phép ra đứng hát trong buổi lễ. Ban Tổ chức và những người có trách nhiệm của nhà nước Trung quốc đã thay vào đó cô bé Lim Miaoke, 9 tuổi, ra đứng nhép miệng, với lý do đơn giản là có gương mặt “dễ coi” hơn Yang Peiyi. Trong những giải thích, nhà nước Trung quốc đã coi việc này như là vấn đề trình diễn tạo chú ý hình thức bề ngoài, chứ không coi đó là hành động kỳ thị, không lương thiện trong một cuộc tranh tài thể thao quốc tế, mà tinh thần bình đẳng và ngay thẳng lúc nào cũng được đề cao. Còn ban Tổ chức Thế vận thì họp báo chính thức nói rằng họ không biết gì về sự kiện này và sẽ coi lại. Thế là xong, mọi vấn đề coi như được giải quyết, dù bị dư luận bàn tán và phê phán.

Trau chuốt bề ngoài để phô trương đã là môt quy luật bắt buộc phải thi hành dưới các chế độ Cộng sản, để tuyên truyền “đánh bóng”cho lãnh đạo và chế độ, nhằm che dấu một xã hội không có gì đáng hãnh diện ngoài hệ thống nhân sự và phương tiện trấn áp. Cho nên tuy Trung Cộng được coi là đã biến thái thành công trở thành “xì thẩu”, nhưng bản chất “đóng tuồng” vẫn không có gì thay đổi. Nghĩa là dân có thể đói chứ đảng không thể xấu.

Những lãnh đạo đảng CSVN biến thái và tay chân khi áp dụng cái quy luật này đã vượt trội hơn những đàn anh Trung quốc. Những bộ áo đại cán hoặc áo sơ mi trắng ngả màu được thay bằng các bộ đồ lớn đúng thời trang và những tà áo dài thêu tay tỉ mỉ của các bà lớn không nói làm gì. Những chiếc xe đạp thồ Trung quốc hay “Honda tiếp thu” được thay thế bằng những chiếc xe hơi đời mới bóng loáng cũng không có gì đáng nói, nếu mà các bộ phận trong xe không có đòi hỏi cầu kỳ khắc thêm tên của chủ. Và nếu mà các công tử con quan cán bộ lãnh đạo không có trò đem giấy trăm đô la ra châm thuốc lá để biểu diễn sự khinh thường tiền bạc làm lác mắt đàn em và gái.

Với cái lối tiêu tiền của Cộng sản biến thái thành tài phiệt như thế thì những tay đàn tay ca hải ngoai vất vả chạy show tất nhiên không bỏ qua khi có dịp để về kiếm cháo. Và đương nhiên là không thể không ca tụng là Việt nam bây giờ “cởi mở” lắm rồi. Hải ngoại thuốc lắc không thấy nhiều, nhưng trong nước thì nhan nhản trong giới thanh niên nam nữ “tiến bộ” trong lãnh vực dâm tình. Những tay chính trị hô hào tiếp cận để thay đổi dĩ nhiên là cũng không ra ngoài các mục đích mong được ghé vào cái bàn tiệc rượu ê hề của đám tài phiệt đỏ đó.

Cũng ưu việt là trong phần phô trương hình thức trong lãnh vực tâm linh. Cặp thiền sư giáo phái Làng Mai-Làng Hồng được khuyến khích dắt tay nhau về dưới võng lọng nghênh ngang cùng các đệ tử tùy tòng lập đàn làm chay khua chuông gõ mõ râm ran. Rồi ngày kỷ niệm Phật đản quốc tế 2008 cũng được đỡ khỏi tay nhà sư chống Cộng thời cơ vác từ Thái Lan về, để thế giới biết rằng “đảng và nhà nước ta” đã nhất tâm tôn kính đức Từ phụ Như Lai. Còn Nguyễn Tấn Dũng thì đã vào Vatican gặp đức Thánh Cha, và tiếp tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, giúp bộ máy tuyên truyền nhà nước cơ hội ca tụng lãnh đạo cấp tiến. Thử hỏi có đàn anh Trung quốc, Cu ba hay Bắc Hàn nào làm được những chuyện vĩ đại ngang tầm đỉnh cao trí tuệ loài người như vậy?

Ở mức nhỏ hơn, thì “nhà nước ta” cũng đã cải tạo được “cô đầm ba lô” Aline Rebeaud thất nghiệp, lang bạt kỳ hồ Thái Lan Cam bốt thuở nào để biến thành “nàng tiên nhân đạo” mang tên cô Tim, sửa sang sắc đẹp, đi ra các cộng đồng Việt Nam vừa ngửa tay xin tiền từ thiện, vừa trừng mắt quát đòi dẹp bỏ lá cờ vàng, để trống chỗ cho lá cờ sao đẫm máu đang chờ chực từ lâu mà chưa có dip tung bay. Kế hoạch này không may bị bể. Chỉ vì hải ngoại không có nhiều những thành phần đầu óc cỡ như Anh Đào Traxel con gái nuôi ông cựu tổng thống Pháp Chirac, hay là như nhà hoạt động được Tây thuộc địa dậy dỗ nọ ở Liège bên Bỉ, tay chủ tịch kia ở vùng quê mù sương Fresno, hoặc ông sư Về Nguồn ở Mississauga tiểu bang Toronto Canada.

Khi mà phải dùng mọi cách tô son trát phấn hình thức bên ngoài để tạo ấn tượng thì chỉ cho người ta thấy rằng là cái bên trong không có gì đáng kể. Nhất là khi son phấn là những hạng rẻ tiền mạt hạng.

Trực Nhân

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN.

Xét rằng: Sự thừa nhận nhân cách của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và
những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ,
xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Sự kêu gọi thiết lập một thế giới trong đó tất cả
mọi người phải được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền được
giải thoát khỏi sự sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được triệt để bảo vệ bằng luật pháp, để con người
không bị bắt buộc phải sử dụng biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa
xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị nhân vị,
vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến
mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc,
nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Một khuôn mẫu chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng
để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho
mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn,
dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế,
phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, không
những giữa các dân tộc của các nước hội viên với nhau, nhưng còn giữa những dân tộc
sống trên các phần đất thuộc thẩm quyền họ cai quản.

Ðiều 1:
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm, cũng như quyền lợi.
Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm. Sự đối xử giữa con người
với nhau phải được trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2:
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3:
Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể.

Ðiều 4:
Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và
buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5:
Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ
hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6:
Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách của mình trước pháp luật.

Ðiều 7:
Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng,
không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị
vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi khiêu khích dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8:
Mọi người đều có quyền được kháng tố trước các cơ quan tư pháp quốc gia có
thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9:
Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10:
Mọi người đều có ngang nhau quyền được phân xử công khai và công bằng,
trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và
nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:
(1) khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật
chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng
tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
(2) Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà
luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp.
Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt
được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín,
cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp
bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:
(1) Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
(2) Mọi người đều có quyền rời bỏ lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:
(1) Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
(2) Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm
ngoài lý do chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc
của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:
(1) Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
(2) Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:
(1) Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế
về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn,
trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
(2) Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai vợ chồng tương lai
đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội,
và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:
(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18:
Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm
cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo
hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay trong
chỗ tư nhân, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19:
Mọi người đều có quyền tự do tư duy và ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền không bị
gây khó khăn vì quan điểm của mình và quyền được tìm kiếm, thu nhận và quảng bá
tin tức và ý kiến qua mọi phương tiện truyền thông và qua mọi biên giới.

Ðiều 20:
(1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách hòa bình.
(2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:
(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách
trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách hoàn toàn tự do.
(2) Mọi người đều có ngang nhau quyền nhận lãnh những trách nhiệm chung của quốc gia của họ.
(3) Ý muốn của nhân dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được
thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và nghiêm chỉnh, bằng phiếu kín, qua phương thức
phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương bảo đảm tự do bầu cử.

Ðiều 22:
Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia
và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được
đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho
nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:
(1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các
điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.
(2) Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau,
nếu cùng làm một công việc như nhau.
(3) Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp,
khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm,
cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
(4) Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24:
Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, nhất là sự giới hạn số giờ làm việc
một cách hợp lý, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:
(1) Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và
sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và
các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tình trạng
bất khiển dụng, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các
hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.

(2) Sinh sản và trẻ con có quyền được chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi
trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng như nhau.

Ðiều 26:
(1) Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là
trong trường hợp cưỡng bách giáo dục ở bậc tiểu học. Giáo dục kỹ thuật và chuyên
nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho
mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
(2) Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng
nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng
khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo,
và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:
(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức
các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
(2) Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như
quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28:
Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế,
trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:
(1) Mọi người đều có nhiệm vụ đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới thực hiện
được việc phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
(2) Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những
hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận
và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm
thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh
chung trong một xã hội dân chủ.
(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng
không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30:
Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này cho phép một nước, một nhóm hay
một cá nhân nào được quyền viện dẫn bất cứ lý do gì để có những việc làm hay
hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc,
ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động của Tây Tạng

Kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động của Tây Tạng.

“Đất nước xa xưa này, với một nền văn hóa cổ và các di sản đang chết dần. Tôi phải chấp nhận sự thất bại.” Đó là lời phát biểu của đức Phật sống, Dalai Lama, vị lãnh đạo tinh thần tối cao, của người dân Tây Tạng. Ông đã nói câu trên trong chuyến công du tại Nhật vào tháng 11, khi mô tả về tình hình tại Tây Tạng ngày càng trở nên tồi tệ.

Vị sư được dân Tây Tạng tôn là Phật sống đã 73 tuổi, trên 50 năm lưu vong, từng được giải Nobel Hòa Bình, người được toàn thể thế giới kính nể vì tinh thần chủ trương “đấu tranh bất bạo động” với chế độ độc tài Trung quốc, để đòi quyền tự trị văn hóa cho dân tộc Tây Tạng.

Trong suốt 50 năm, ông đã đi nhiều nơi trên thế giới để thuyết giảng Phật pháp, để vận động thế giới ủng hộ chủ trương đòi quyền tự trị văn hóa. Nói chung ông đã thành công trong những việc làm trên. Đó là có rất đông người phục tài thuyết pháp của ông, sùng đạo Phật, tôn thờ ông, và rất đông chùa thuộc các hệ thống Phật giáo Tây Tạng được thành hình trên thế giới. Từ cuối thập niên 80, ông đã được sự ủng hộ chính trị của các lãnh tụ các quốc gia Tây phương, tiếp đón với tư cách quốc khách, thượng khách, và làm cho vấn đề Trung quốc chiếm đóng Tây Tạng từ thập niên 50 được chú ý trở lại và gặp nhiều sự phản đối trên thế giới.

Cho đến nay, cao điểm của các phản ứng thế giới đối với Trung quốc là dịp tổ chức Thế vận hội Bắc kinh 2008, nhân vụ Trung quốc gia tăng sự đàn áp đối với người dân Tây Tạng và giết chết trên 200 người Tây Tạng vào tháng Ba năm 2008. Sau khi việc tổ chức Thế vận Hội chấm dứt thì cuộc đàm phán giữa Tây Tạng và đại diện của Trung quốc cũng tàn theo, phiên họp cuối cùng của đôi bên vào đầu tháng 11 đã bị bế tắc và đình chỉ, tức là mối hy vọng nói chuyện với Trung quốc để đòi (hay xin) được quyền tự trị của Tây Tạng coi như chấm dứt.

Trong một phát biểu mới đây nhân dịp đại hội của trên 500 lãnh tụ cộng đồng Tây Tạng từ khắp nơi trên thế giới tại Dharamsala vào cuối tháng 11, phát ngôn viên Khama Chopel của chính phủ lưu vong Tây tạng, cho biết trong một cuộc thăm dò ý kiến một cách bí mật ở trong nội địa Tây Tạng, thì số ý kiến muốn Tây Tạng được độc lập đã gấp đôi số ý kiến ủng hộ chủ trương của đức Dalai Lama, tức là chủ trương chỉ muốn được tự trị về mặt văn hóa mà thôi, còn chủ quyền thì Dalai Lama vẫn thừa nhận Tây Tạng là thuộc về Trung quốc. Tức là người dân Tây tạng, phải nói cho rõ là những người dân Tây Tạng đang sống trong nội địa, những người trực tiếp bị chế độ độc tài Trung quốc thống trị hàng ngày, đã có cách nhìn thực tế hơn. Họ thấy rằng chủ trương của người lãnh đạo tinh thần của họ đã có gì đó không hiệu quả hay không ổn. Bởi vì sau một thời gian dài, phương thức xin cho, được diễn tả bằng từ ngữ mỹ miều “đấu tranh bất bạo động” đã không đem lại kết quả như họ mong muốn.

Thêm một bài học cho những ai còn tin vào chiêu bài đấu tranh bất bạo động với chế độ độc tài, xin tự trị văn hóa suốt 50 năm dài còn không được, huống gì đòi đấu tranh giành tự do dân chủ như trường hợp Việt Nam.

Thái Hoà